Tìm kiếm Blog này

BỆNH VẨY NẾN THƯỜNG LÀ NHỮNG LỨA TUỔI CÒN RẤT TRẺ

Mặc dù bệnh vẩy nến hiếm khi phát triển ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, nhưng 1/3 số người mắc bệnh trước khi 18 tuổi. Do đó, các bậc phụ huynh cần biết cách chăm sóc trẻ bị bệnh vảy nến.


Những người mắc bệnh vẩy nến khi còn trẻ đa số là do yếu tố tiền sử gia đình có người mắc bệnh. Hình thức phổ biến nhất của bệnh ở trẻ em các mảng bám trên các vùng khuỷu tay, đầu gối và lưng dưới, da đầu. Bệnh cũng có thể phát triển ở các khu vực nhạy cảm hơn như mặt, nách, háng… Bệnh vẩy nến ở trẻ em có xu hướng ít bong tróc hơn ở người lớn, và có xu hướng màu đỏ tươi và bóng.
BỆNH VẨY NẾN THƯỜNG LÀ NHỮNG LỨA TUỔI CÒN RẤT TRẺ
Bệnh vảy nến ở trẻ em
Bệnh vảy nến guttate phổ biến ở trẻ em và thanh thiếu nhiên. Nguyên nhân của bệnh là do vi khuẩn streptococcus, và thường xảy ra sau khi bị nhiễm trùng cổ hong. Bệnh vảy nến guttate giống như một phát ban nhỏ, vảy có đường kính khoảng 1 cm, xuất hiện trên thân, chân tay và da đầu. Bệnh vẩy nến gây ra nhiều bất tiện cho sinh hoạt của người bệnh.

Điều trị bệnh vảy nến ở trẻ em

Bệnh vảy nến có thể điều trị tại chỗ. Dưỡng ẩm và làm mềm da là rất quan trọng trong việc giữ ẩm cho da và giúp kem điều trị phát huy tối đa hiệu quả. Da ẩm có thể giảm các triệu chứng ngứa và đau nhức.

Nếu tình trạng bệnh nghiêm trọng, trẻ cần được khám bác sĩ và thực hiện các phương pháp điều trị mạnh hơn như ánh sáng trị liệu, …. Bệnh vảy nến ảnh hưởng nhiều tới sự tự tin của trẻ. Dưới đây là một số lời khuyên để đối phó với bệnh vảy nến ở trẻ:

- Trẻ cần được sinh hoạt bình thường – bệnh vảy nến chỉ là một phần của cuộc sống. Trẻ có thể được chơi bất cứ môn thể thao nào.

Vảy nến có thể gây tình trạng phát ban

- Phụ huynh và trẻ có thể có quan điểm khác nhau về phương pháp điều trị. Điều quan trọng là cần thống nhất và tôn trọng quan điểm của trẻ. Những lưu ý dưới đây sẽ giúp kiểm soát bệnh ở trẻ:

- Cho trẻ sử dụng quần áo, đồ lót chất liệu cotton thoáng mát. Ga trải giường, chăn mền cần được sạch sẽ là thoáng khí.

- Thông báo cho giáo viên trong trường hợp trẻ cần được đi khám hoặc giáo viên có thể can thiệp giải thích cho các bạn trong lớp rằng đây không phải bệnh truyền nhiễm, không nên cô lập trẻ bị bệnh.

- Thiết lập thói quen điều trị. Dùng thuốc đúng thời gian chỉ dẫn của bác sĩ.

- Cho trẻ sử dụng kem dưỡng ẩm và mang theo túi xách nếu phải đi xa.

BIẾN CHỨNG CỦA BỆNH VẨY NẾN

Cẩn thận biến chứng của vẩy nến

Vẩy nến là một căn bệnh mãn tính, chưa có thuốc điều trị bệnh dứt hẳn và nguyên nhân gây bệnh cũng không rõ ràng. Bệnh ảnh hưởng đến thẩm mỹ của da và biến chứng khá nguy hiểm.


BIẾN CHỨNG CỦA BỆNH VẨY NẾN
 Biến chứng khá nguy hiểm.
Tại buổi sinh hoạt khoa học kỹ thuật diễn ra ở Trung tâm Truyền thông – Giáo dục Sức khỏe chiều 30-7, BS Hoàng Văn Minh (trưởng Phòng khám da liễu, BV Đại học Y Dược TP.HCM) cho biết:

Bệnh vẩy nến là loại bệnh chưa rõ nguyên nhân xuất hiện, thường do vi trùng gây ra. Biểu hiện ban đầu của bệnh là những hồng ban có vẩy, vẩy khô từng mảng màu trắng, dễ tróc, dễ vỡ vụn. Tùy vào tình trạng nặng hay nhẹ mà những hồng ban xuất hiện ít hay nhiều. Những hồng ban này thường xuất hiện khắp cơ thể và nổi bật ở đầu gối, khuỷu tay chân, xương thiên, lưng và da đầu.

Dễ bỏ qua vì lầm tưởng vẩy nến với gàu

Khi vẩy nến xuất hiện ở da đầu bệnh nhân hay cho đó là gàu vì những vẩy tróc có màu trắng rất giống với gàu. Vì vậy thường không quan tâm hoặc điều trị không đúng thuốc, từ đó dẫn đến tình trạng bệnh nặng thêm.

Bệnh nhân cần lưu ý một số triệu chứng để phân biệt khi vẩy nến xuất hiện ở da đầu như: không rụng tóc, có nãng trắng vài milimet đến vài centimet nằm sát da đầu. Khi vẩy nến ở tình trạng nặng sẽ xuất hiện những giọt sương huyết. Với vẩy nến da đầu sương huyết xuất hiện ở vùng trán và những nơi tóc không mọc. Ở cơ thể những giọt sương huyết sẽ xuất hiện trên bề mặt đốm vẩy.

BÊNH VIÊM KHỚP VẨY NẾN

Phong cách sống và biện pháp khắc phục bệnh viêm khớp vẩy nến
Bảo vệ các khớp xương. Thay đổi cách thực hiện các công việc hàng ngày có thể tạo sự khác biệt to lớn trong cách cảm nhận. Ví dụ, có thể tránh căng các khớp ngón tay bằng các tiện ích sử dụng như dụng cụ mở bình để xoay nắp từ lọ, bằng cách nhấc chảo nặng hoặc các đối tượng khác với cả hai tay, và bằng cách đẩy cánh cửa mở với toàn bộ cơ thể thay vì chỉ ngón tay.


BÊNH VIÊM KHỚP  VẨY NẾN
Vẩy nến ở trẻ nhỏ
Duy trì một trọng lượng khỏe mạnh. Duy trì cân nặng ít hơn những nơi dòng khớp, dẫn đến đau giảm và năng lượng và di động tăng. Cách tốt nhất để tăng chất dinh dưỡng trong khi hạn chế lượng calo là ăn nhiều loại thực phẩm dựa trên cây trồng, hoa quả, rau và ngũ cốc.

ĐIỀU TRỊ BỆNH VẨY NẾN

Bệnh lành tính, thường không ảnh hưởng đến sức khoẻ nhưng tác động xấu đến thẩm mỹ, tâm lý và những hệ luỵ khác. 
Dấu hiệu đặc trưng

Khi mắc vảy nến da đầu, bệnh nhân thường xuyên bị tróc vảy da đầu và khó chịu bởi những mảng vảy nến sưng đỏ đặc trưng. Vảy nến da đầu có thể dai dẳng hơn vảy nến ở những vùng khác trên cơ thể.
ĐIỀU TRỊ BỆNH VẨY NẾN
Tổn thương da đầu do bệnh vảy nến.
Dấu hiệu đặc trưng của vảy nến da đầu là tróc vảy, sưng đỏ từng vùng có ranh giới rõ ràng, thường ở dọc mép tóc, trên trán hoặc sau tai.

Sưng đỏ và ngứa có nhiều mức độ khác nhau. Bệnh vảy nến da đầu nếu không được điều trị sẽ thường làm xuất hiện các miếng vảy màu trắng bạc và bóng. Ngoài ra, nếp gấp của sụn vành tai (sau tai) cũng bị ảnh hưởng.

BỆNH VẨY NẾN LÀ BỆNH MẠN TÍNH

Vảy nến là một bệnh lý viêm mạn tính, miễn dịch qua trung gian tế bào, có liên quan tới gien di truyền, biểu hiện ngoài da hoặc khớp; hay cả da và khớp. Ước tính có khoảng 2 – 3% dân số thế giới mắc bệnh, trong đó bất kỳ lứa tuổi nào cũng có thể bị vảy nến nhưng thường gặp nhất là 15-35 tuổi. Tỷ lệ bệnh gần như bằng nhau ở nam và nữ giới, không phân biệt thuộc thành phần kinh tế xã hội nào. Vảy nến cũng xuất hiện ở tất cả các dân tộc nhưng với tỷ lệ khác nhau.
Thương tổn
Hiện tại chưa ai biết chính xác nguyên nhân gây ra bệnh vảy nến, nhưng người ta tin chắc bệnh có liên quan tới yếu tố gien. Các nhà nghiên cứu đã công nhận rằng hệ thống miễn dịch của cơ thể phát ra những tín hiệu sai lệch làm kích hoạt tốc độ phát triển của tế bào da nhanh một cách bất thường. Một tế bào da bình thường trưởng thành và rời khỏi bề mặt da trong khoảng 28 – 30 ngày. Nhưng tế bào da của người bệnh vảy nến chỉ cần 3 – 4 ngày là trưởng thành và di chuyển lên bề mặt da, thay vì rơi ra, chúng lại dính với nhau và tạo nên vảy nến.

Thương tổn đặc trưng là mảng da màu đỏ, giới hạn rõ, bề mặt có vảy trắng, dễ tróc, thường xuất hiện ở da đầu, đầu gối, cùi chỏ và thân mình. Ngoài ra thương tổn cũng có thể xuất hiện ở bất cứ vị trí nào của cơ thể như móng, lòng bàn tay, lòng bàn chân, vùng sinh dục và mặt...

Có 5 thể vảy nến, đó là: vảy nến mảng (thường gặp nhất chiếm khoảng 80%), vảy nến giọt, vảy nến đảo nghịch, vảy nến mủ và vảy nến đỏ da toàn thân.

Các thương tổn da của bệnh vảy nến nhìn có vẻ ghê sợ nhưng hoàn toàn không lây cho người khác. Do vậy chúng ta không nên kỳ thị hay xa lánh bệnh nhân vảy nến.

Bệnh lành tính nhưng cần lưu ý tầm soát các bệnh lý kèm theo

Trong hầu hết các trường hợp, vảy nến diễn tiến lành tính, bệnh nhân có thể sống chung với bệnh mà không có ảnh hưởng đáng kể về mặt sức khỏe ngoại trừ ảnh hưởng đến tính thẩm mỹ. Tuy nhiên cần lưu ý một số bệnh kèm theo xuất hiện trước, trong hoặc sau khi khởi phát vảy nến như viêm khớp vảy nến, hội chứng chuyển hóa, bệnh tim mạch...

Vảy nến khớp là một dạng đặc biệt của viêm khớp xảy ra khoảng 10 – 30% bệnh nhân vảy nến. Ở vảy nến khớp, các khớp và mô mềm xung quanh khớp bị viêm đỏ và cứng. Vảy nến khớp có thể bị ở ngón tay, ngón chân, và có thể xảy ra ở cổ, lưng, ngón chân và mắt cá. Trong những trường hợp bệnh nặng, vảy nến khớp có thể gây biến dạng và phá hủy khớp không hồi phục. 

Hiện nay người ta nói nhiều đến một số rối loạn chuyển hóa kèm theo vảy nến như rối loạn mỡ máu, tăng huyết áp, béo phì, xơ vữa động mạch…Đây chính là những yếu tố nguy cơ tim mạch do vậy cần lưu ý và tầm soát để phát hiện sớm trên bệnh nhân vảy nến.





Vảy nến da đầu





Một số yếu tố khởi phát hoặc làm vảy nến nặng hơn

Stress có thể làm bộc phát bệnh vảy nến lần đầu tiên hoặc làm bệnh trở nặng hơn. Vảy nến có thể xảy ra ở vị trí da bị chấn thương, người ta gọi đó là hiện tượng Koebner. Chích ngừa, phơi nắng, cào gãi cũng có thể gây hiện tượng Koebner. Một số thuốc như: thuốc chống sốt rét, lithium, một vài thuốc ức chế beta cũng là tác nhân làm bùng phát bệnh. Các yếu tố khác như: thay đổi khí hậu, chế độ ăn, dị ứng…

Có thể kiểm soát nhưng không thể trị khỏi hẳn vảy nến

Hiện tại có rất nhiều phương pháp điều trị vảy nến, tuy nhiên vẫn chưa có cách nào điều trị khỏi hẳn bệnh. Chúng ta hy vọng trong tương lai sẽ có thể thay đổi các gien gây bệnh này hoặc một ngày nào đó sẽ có các phương pháp điều trị bệnh hiệu quả hơn, chuyên biệt hơn cho nhiều dạng vảy nến. Mặc dù vảy nến không thể khỏi hẳn nhưng chúng ta có thể kiểm soát bệnh trong một khoảng thời gian vài tháng thậm chí vài năm. Đôi khi, bệnh không tái phát trở lại, nhưng đa số bệnh nhân mang bệnh mạn tính kéo dài với từng đợt bùng phát và hết bệnh xen kẽ nhau.
Diễn tiến của bệnh vảy nến khó mà đoán trước đượcgây ra sự khó khăn trong điều trị ở nhiều bệnh nhân. Điều quan trọng là phải có đời sống tinh thần thoải mái và đi khám chuyên khoa da để tìm ra phương pháp điều trị thích hợp với tình trạng của mình.

VẨY NẾN GÂY KHÓ CHỊU DA ĐẦU



Không đến nỗi làm cho bệnh nhân đau đớn, không đe dọa tính mạng người bệnh, nhưng bệnh vảy nến da đầu (VNDĐ) gây cho người bệnh sự khó chịu do ngứa ngáy, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống, thậm chí gây những chấn thương tâm thần bởi cảm thấy xấu hổ, ngượng ngùng, muốn xa lánh bạn bè, cách ly xã hội. Mới đây, Hội nghị khoa học về đối phó với những thách thức của bệnh VNDĐ đã được tổ chức tại Hà Nội.

Vảy nến da đầu gây khó chịu, mất tự tin cho người bệnh.
Nhận diện kẻ thù

Vảy nến là một bệnh da liễu mạn tính và da đầu là một trong những khu vực bị ảnh hưởng thường xuyên nhất với sự tróc vảy và những mảng vảy nến sưng đỏ. Nó dai dẳng hơn vảy nến ở những vùng khác trên cơ thể. Dấu hiệu đặc trưng của VNDĐ là hiện tượng tróc vảy, có nhiều sưng đỏ thành từng vùng có ranh giới rõ ràng, dễ nhận thấy dọc theo mép tóc, trên trán hoặc sau tai. Nếu không được điều trị, sẽ thường làm xuất hiện các miếng vảy màu trắng bạc và bóng giống như paraffin.

Theo TS. Nguyễn Duy Hưng - Tổng thư ký Hiệp hội Bệnh vảy nến, mấy năm gần đây tỉ lệ bệnh nhân tới điều trị bệnh da đầu ngày càng cao. Nhiều người đến trong tình trạng tổn thương nặng do tự bôi thuốc hoặc sử dụng những bài thuốc dân tộc cổ truyền theo sự mách bảo của người quen. Với bệnh VNDĐ, không chỉ ảnh hưởng đến thẩm mỹ và tâm lý người bệnh mà còn có thể liên quan đến một số bệnh lý quan trọng khác: hội chứng chuyển hóa, bệnh lý tim mạch... dẫn đến tình trạng tuổi thọ thấp.

VNDĐ - Bệnh không của riêng quốc gia nào

Tại hội thảo, GS. Thomas Luger - Giám đốc, Chủ tịch khoa Da, Trường đại học Westphalian Wihelons, Munster (Đức), Chủ tịch Hội da của Đức cho biết một thông tin thú vị: tỉ lệ mắc bệnh vảy nến ở châu Âu (da trắng) cao hơn châu Á, châu Phi (da vàng, da đen). Ở Đức, vảy nến là một trong các bệnh da phổ biến nhất, VNDĐ chiếm khoảng 50% bệnh nhân vảy nến và là một thách thức lớn vì da đầu là vùng rất khó điều trị. Bệnh VNDĐ thường phát triển ở độ tuổi sau dậy thì, nhưng ngày nay bệnh nhân là trẻ em cũng nhiều. Ở Đức, tỉ lệ trẻ em mắc bệnh VNDĐ khoảng 1%, bệnh nhân độ tuổi này điều trị rất khó vì các thuốc dùng hiện nay đều được khuyến cáo chỉ dùng cho trẻ em từ 10 tuổi trở lên. Bệnh VNDĐ thường phát triển vào mùa đông, không khí khô hanh thường kích hoạt vảy nến phát triển. Đặc biệt bệnh nhân ở tình trạng căng thẳng thần kinh cũng là nguyên nhân bùng phát bệnh vảy nến.

GS. Thomas cũng thông báo kết quả nghiên cứu sự kết hợp giữa calcipotriol và betamethasone dipropionate trong công thức dạng gen để điều trị VNDĐ. Sự kết hợp giữa hai hoạt chất này là một phương pháp điều trị an toàn và hiệu quả, các phản ứng phụ rất thấp, hiệu quả lâm sàng được cải thiện rõ rệt, hoàn toàn thích hợp cho việc quản lý bệnh VNDĐ trong thời gian điều trị lâu dài.



Tổn thương vảy nến trên da.


Đối phó thách thức của bệnh VNDĐ

Tại hội thảo, TS. Trần Văn Tiến - Phó giám đốc Bệnh viện Da liễu Trung ương cho biết, hiện nay cả nước có 800 bác sĩ chuyên khoa da liễu trình độ khác nhau, chủ yếu tập trung ở thành phố. Tỉ lệ 800 bác sĩ/83 triệu dân là quá thấp. Nhiều bệnh nhân đã tự ý xử lý bệnh của mình không theo sự chỉ định của bác sĩ hoặc theo kinh nghiệm dân gian truyền cho nhau, chẳng hạn như dùng vảy tê tê. Theo TS. Trần Văn Tiến, chưa có kết luận khoa học về tác dụng của vảy tê tê trong điều trị bệnh vảy nến, có thể nó chỉ có tác dụng điều trị tại chỗ bên ngoài.

Lời khuyến cáo của các bác sĩ là bệnh nhân khi có triệu chứng của bệnh vảy nến cần phải đi khám để xác định thể bệnh vì một số bệnh ngoài da rất giống bệnh vảy nến. Điều trị bệnh vảy nến phải cân nhắc về tuổi, thể bệnh, vị trí thương tổn, diện tích da tổn thương, các thuốc bệnh nhân đã sử dụng...

Thực tế hiện nay, bệnh nhân VNDĐ không mấy hài lòng với những liệu pháp chữa trị hiện có và mong muốn có sự giảm việc sử dụng thuốc trong các liệu pháp điều trị mới đối với bệnh này. Một trong những cách để tăng sự tuân thủ đối với liệu pháp điều trị bệnh VNDĐ là việc cải thiện việc sử dụng thuốc, mang lại tính hiệu quả cao so với những liệu pháp hiện có.

Tuy nhiên, TS. Nguyễn Duy Hưng cho rằng, điều trị bệnh vảy nến phải dựa vào từng trường hợp cụ thể vì có một số thuốc điều trị tốt nhưng lại gây tác dụng xấu đến các bệnh khác. Dựa trên 7 yếu tố để chỉ định điều trị phù hợp: mức độ bệnh, diện tích thương tổn; sự ảnh hưởng của bệnh đến chất lượng sống; mức độ ảnh hưởng của bệnh đến tâm lý người bệnh; mức độ nguy hại của trị liệu với hiệu quả trị liệu; các bệnh lý toàn thân; nhu cầu và mong muốn điều trị của người bệnh; giá thành trị liệu để đưa ra tiêu chuẩn lựa chọn thuốc: dễ sử dụng; thuận tiện; an toàn; hiệu quả nhanh và lâu dài.

Hiện nay chưa xác định được nguyên nhân đích thực của bệnh vảy nến, người ta chia ra các nhóm bệnh với những nguyên nhân khác nhau: cơ địa (gen di truyền: nếu bố hoặc mẹ bị bệnh thì có khoảng 8% con bị bệnh, nếu cả bố và mẹ đều bị bệnh thì có tới 41% con mắc bệnh); yếu tố khởi động (mắc các bệnh nhiễm khuẩn, sang chấn tâm lý, sang chấn tại chỗ...); rối loạn miễn dịch.

Hương Lan

VẨY NẾN CÓ THỂ NHẦM SANG GÀU


Bệnh vẩy nến là một bệnh rối loạn tự miễn ảnh hưởng đến thẩm mỹ của da và gây ra những biến chứng khá nguy hiểm. Ngoài ra việc dùng thuốc điều trị vẩy nến cũng gây hại đến chức năng gan, thận, tiêu hóa....


Biến chứng do lầm tưởng vẩy nến với gàu

Khi vẩy nến xuất hiện ở da đầu bệnh nhân hay cho đó là gàu vì những vẩy tróc có màu trắng rất giống với gàu. Vì vậy thường không quan tâm hoặc điều trị không đúng thuốc, từ đó dẫn đến tình trạng bệnh nặng thêm.

Bệnh nhân cần lưu ý một số triệu chứng để phân biệt khi vẩy nến xuất hiện ở da đầu như: không rụng tóc, có vẩy trắng vài milimet đến vài centimet nằm sát da đầu. Khi vẩy nến ở tình trạng nặng sẽ xuất hiện những giọt sương huyết. Với vẩy nến da đầu sương huyết xuất hiện ở vùng trán và những nơi tóc không mọc. Ở cơ thể những giọt sương huyết sẽ xuất hiện trên bề mặt đốm vẩy.


Người bị bệnh vẩy nến nên tránh ăn nhiều chất béo; tránh dùng rượu, bia, thuốc lá, cà phê; tránh chấn thương trầy xước; giữ tinh thần thoải mái, không thức khuya…

Thuốc điều trị bệnh vẩy nến hiện nay chỉ mang tính tạm thời. Bệnh không di truyền, không lây lan trong sinh hoạt. Vì bệnh đột nhiên xuất hiện, phát triển, lại đột nhiên lui nên tình trạng này rất khó cho bác sĩ và bệnh nhân trong việc điều trị. Do vậy, khi điều trị, cả bệnh nhân và bác sĩ cần có sự kiên nhẫn, hợp tác để tình trạng bệnh không đi đến những biến chứng.

Dạng nặng có thể gây tổn thương khớp

Biến chứng của vẩy nến là vẩy nến khớp. Khoảng 53% bệnh nhân mắc bệnh vẩy nến đều than đau khớp. Đây là dạng nặng của vẩy nến thông thường.

Biểu hiện thường gặp ở vẩy nến khớp là triệu chứng tổn thương móng (chiếm 80% tình trạng bệnh). Một khi có những dấu hiệu tổn thương móng, đau khớp và có tiền sử về bệnh vẩy nến, bệnh nhân nên nhanh chóng chụp phim, làm xét nghiệm để có kết quả chính xác.

Vẩy nến khớp có thể làm tổn thương các khớp tay, ngón tay; chân, ngón chân gây biến dạng, co quắp hoặc các khớp ngón mất đi ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân rất cao. Sự phát triển bệnh vẩy nến khớp cũng tương tự bệnh vẩy nến. Bệnh xuất hiện, phát triển, mất đi, cứ như vậy lặp đi lặp lại nên thuốc điều trị cũng kéo dài.

Điều đáng lưu ý là thuốc dùng điều trị vẩy nến khớp gây nguy hại đến chức năng gan, thận, suy tủy cao vì vậy bệnh nhân nên cẩn trọng khi sử dụng một số thuốc như: dẫn xuất Vitamin D3 Vitamin A, corticoide dạng chích, Methotrexate… Đặc biệt đối với phụ nữ đang điều trị bệnh không nên mang thai vì khả năng gây quái thai cao (chiếm tỉ lệ 99%).

Nguồn: BS Y Dược 365 (S.T)