Tìm kiếm Blog này

Hiển thị các bài đăng có nhãn ĐIỀU TRỊ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn ĐIỀU TRỊ. Hiển thị tất cả bài đăng

ĐỐI PHÓ VÀ HỖ TRỢ

Rất nhiều liệu pháp thay thế có sẵn để điều trị bệnh vẩy nến, bao gồm cả chế độ ăn đặc biệt, kem, bổ sung chế độ ăn uống và các loại thảo mộc. Một số người yêu cải thiện từ các phương pháp điều trị là hữu ích trong điều trị bệnh vẩy nến, nhưng hầu hết chưa được chứng minh có hiệu quả.


Một số liệu pháp thay thế được coi là an toàn nói chung, và có thể hữu ích trong việc làm giảm các dấu hiệu và triệu chứng như ngứa và nhân rộng.
Vẩy nến ở chân
Aloe vera. Từ lá của cây lô hội, lô hội chiết xuất kem có thể làm giảm đỏ, mở rộng quy mô, ngứa và viêm nhiễm. Có thể cần phải sử dụng kem nhiều lần trong ngày trong một tháng hoặc nhiều hơn để nhìn thấy bất kỳ cải thiện làn da.

Kem Capsaicin. Ứng dụng cho các khu vực bị ảnh hưởng nhiều lần một ngày, kem capsaicin - chiết xuất từ ớt - có thể dễ dàng giảm ngứa và giảm độ nặng của bệnh vẩy nến. Có thể trải nghiệm một cảm giác nóng với các ứng dụng đầu tiên. Hãy chắc chắn để rửa tay sau đó, do đó không vô tình chà kem tới đôi mắt.

Dầu cá. Omega-3 acid béo được tìm thấy trong chất bổ sung dầu cá có thể làm giảm viêm kết hợp với bệnh vẩy nến, mặc dù kết quả từ các nghiên cứu được trộn lẫn. 3 gram hoặc ít hơn của dầu cá hàng ngày nói chung được công nhận là an toàn và có thể tìm thấy nó có lợi.

Nếu đang xem xét bổ sung chế độ ăn uống hoặc liệu pháp thay thế khác để điều trị bệnh vẩy nến, tham khảo ý kiến bác sĩ. Người đó có thể giúp cân nhắc những ưu và khuyết điểm của phương pháp điều trị cụ thể thay thế.

Đối phó và hỗ trợ

Đối phó với bệnh vẩy nến có thể là một thách thức, đặc biệt là nếu bệnh bao gồm các khu vực rộng lớn của cơ thể hoặc ở những nơi dễ nhìn thấy bởi người khác, chẳng hạn như mặt, bàn tay. Đang diễn ra liên tục tính chất của bệnh và điều trị những thách thức chỉ thêm vào gánh nặng.

Dưới đây là một số cách để giúp đối phó và cảm thấy nhiều hơn trong kiểm soát:

Nhận đào tạo. Tìm hiểu càng nhiều càng tốt về bệnh và nghiên cứu lựa chọn điều trị. Hiểu những gì có thể gây nên bệnh, do đó có thể ngăn ngừa bùng phát tốt hơn. Giáo dục những người xung quanh - bao gồm gia đình và bạn bè - để họ có thể nhận biết, xác nhận và hỗ trợ nỗ lực trong việc đối phó với căn bệnh này.

Thực hiện theo khuyến cáo của bác sĩ. Nếu bác sĩ đề nghị một số phương pháp điều trị và thay đổi lối sống, hãy đi theo họ. Hãy hỏi nếu có bất cứ điều gì không rõ ràng.

Tìm một nhóm hỗ trợ. Xem xét việc tham gia một nhóm hỗ trợ với các thành viên khác, những người có bệnh và biết những gì đang trải qua. Có thể tìm thấy sự thoải mái trong việc chia sẻ kinh nghiệm và cuộc đấu tranh, gặp gỡ mọi người phải đối mặt với những thách thức tương tự. Hãy hỏi bác sĩ để biết thông tin về các nhóm hỗ trợ bệnh vẩy nến tại khu vực hoặc trực tuyến.

Sử dụng che đậy khi cảm thấy cần thiết. Những ngày khi cảm thấy đặc biệt tự ý thức, bao gồm bệnh vẩy nến với quần áo hoặc sử dụng mỹ phẩm che đậy, chẳng hạn như trang điểm cơ thể hoặc kem che khuyết điểm. Những sản phẩm này có thể che những mảng đỏ và bệnh vẩy nến. Nó có thể gây kích ứng da, tuy nhiên, và không nên sử dụng trên vùng lở loét, vết cắt hoặc vết thương.

DÙNG THUỐC UỐNG HOẶC THUỐC TIÊM TRỊ VẨY NẾN

Nếu có bệnh vẩy nến nặng hay đó là khả năng kháng các loại điều trị, bác sĩ có thể kê toa thuốc uống hoặc tiêm. Bởi vì các tác dụng phụ nghiêm trọng, một số trong những thuốc được sử dụng trong thời gian chỉ ngắn gọn về thời gian và có thể được xen kẽ với các hình thức điều trị khác.
Retinoids. Liên quan đến vitamin A, nhóm thuốc này có thể làm giảm việc sản xuất các tế bào da nếu có bệnh vẩy nến nặng mà không đáp ứng với liệu pháp khác. Các dấu hiệu và triệu chứng thường trở lại khi ngưng điều trị, tuy nhiên. Các tác dụng phụ có thể bao gồm khô da và niêm mạc, ngứa và rụng tóc. Và bởi vì retinoids như acitretin (Soriatane) có thể gây dị tật bẩm sinh nặng, phụ nữ phải tránh thai trong vòng ít nhất ba năm sau khi uống thuốc.
Vẩy nến ở tay
Methotrexate. Loại uống, methotrexate giúp bệnh vẩy nến bằng cách giảm sản xuất của các tế bào da và viêm. Nó cũng có thể làm chậm sự tiến triển của bệnh viêm khớp vẩy nến ở một số người. Methotrexate thường được dung nạp tốt với liều lượng thấp, nhưng có thể gây ra đau bụng, chán ăn và mệt mỏi. Khi được sử dụng trong thời gian dài nó có thể gây ra một số tác dụng phụ nghiêm trọng, bao gồm tổn thương gan nặng và giảm sản xuất của các tế bào máu trắng, hồng cầu và tiểu cầu.

Cyclosporine. Cyclosporine ngăn chặn hệ miễn dịch và hiệu quả cũng tương tự như methotrexate. Giống như các thuốc ức chế miễn dịch khác, cyclosporine làm tăng nguy cơ nhiễm trùng và các vấn đề sức khỏe khác, bao gồm cả ung thư. Cyclosporine cũng làm cho dễ bị bệnh về thận và huyết áp cao - tăng nguy cơ với liều lượng cao hơn và điều trị dài hạn.

Hydroxyurea. Thuốc này không có hiệu quả như cyclosporin hoặc methotrexate, nhưng không giống như các loại thuốc mạnh hơn nó có thể được kết hợp với đèn chiếu. Tác dụng phụ có thể bao gồm thiếu máu, giảm tế bào bạch cầu và tiểu cầu. Nó không nên dùng cho phụ nữ có thai hoặc dự định có thai.

Immunomodulator (Biologics). Thuốc immunomodulator, một số được phê duyệt để điều trị bệnh vẩy nến trung bình đến nặng. Chúng bao gồm alefacept (Amevive), etanercept (Enbrel), infliximab (Remicade) và ustekinumab (Stelara). Các thuốc này được cho bởi truyền tĩnh mạch, tiêm bắp hoặc tiêm dưới da và thường được sử dụng cho những người đã không đáp ứng với liệu pháp truyền thống hoặc người có liên quan đến viêm khớp vẩy nến. Biologics làm việc bằng cách chặn các tương tác giữa hệ thống tế bào miễn dịch nhất định. Mặc dù nó có nguồn gốc từ các nguồn tự nhiên hơn là những hóa chất, chúng phải được dùng thận trọng vì chúng có tác động mạnh đến hệ thống miễn dịch và có thể gây nhiễm trùng đe dọa cuộc sống.

Điều trị xem xét

Mặc dù các bác sĩ chọn phương pháp điều trị dựa vào loại và mức độ nghiêm trọng của bệnh vẩy nến và các vùng da bị ảnh hưởng, các phương pháp truyền thống bắt đầu với các phương pháp điều trị ôn hòa nhất - các loại kem và liệu pháp ánh sáng cực tím (đèn chiếu) - sau đó tiến đến mạnh mẽ hơn nếu cần thiết. Mục đích là để tìm cách hiệu quả nhất để làm chậm phát triển bệnh với các tác dụng phụ ít nhất có thể.

Mặc dù một loạt các tùy chọn, có hiệu quả điều trị bệnh vẩy nến có thể được thử thách. Căn bệnh này là không thể đoán trước, đi qua các chu kỳ của cải tiến và làm xấu có vẻ ngẫu nhiên. Ảnh hưởng của phương pháp điều trị bệnh vẩy nến cũng có thể được đoán trước, những gì làm việc tốt cho một người có thể không hiệu quả cho người khác. Làn da cũng có thể trở nên kháng với phương pháp điều trị khác nhau theo thời gian, và phương pháp điều trị bệnh vẩy nến mạnh nhất có thể có tác dụng phụ nghiêm trọng.

Nói chuyện với bác sĩ về các tùy chọn, đặc biệt là nếu không cải thiện sau khi sử dụng điều trị đặc biệt hoặc nếu đang gặp tác dụng phụ khó chịu. Có thể điều chỉnh kế hoạch điều trị hoặc thay đổi cách tiếp cận để đảm bảo kiểm soát tốt nhất có thể các triệu chứng.

BỆNH VẨY NẾN PHẤN HỒNG

Chẩn đoán bệnh vảy nến phấn hồng: Dựa vào vị trí 1/2 người phía trên, tổn thương có tính chất đám mẹ, đám con, đám mẹ hình tròn vài cm đường kính, màu đỏ hồng có viền vảy ở xung quanh, ở giữa hơi nhăn màu nhạt hơn. các đám con 1cm đường kính dạng sẩn mày đay, ban đỏ, hơi có vảy. 


Vẩy phấn hồng thường được các bác sĩ chuyên khoa Da Liễu chẩn đoán xác định nhanh chóng dựa vào các triệu chứng lâm sàng. Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu lúc bệnh mới khởi phát, vẩy phấn hồng cần được chẩn đoán phân biệt với một số bệnh ngoài da khác như: lang ben, nấm da, chàm, vẩy nến, giang mai II. Một số trường hợp phải cần đến các phương pháp cận lâm sàng như xét nghiệm huyết học, sinh thiết sang thương da... để xác định chẩn đoán bệnh vảy nến phấn hồng.
Vẩy nến phấn hồng
Cần chẩn đoán phân biệt với:

-Nấm da

- Viêm da da dầu: viêm da da dầu tổn thương thường có đỏ da, vảy mỡ ở vùng mặt, ngực, lưng..

- Giang mai 2: tổn thương là đào ban, sẩn giang mai, mảng niêm mạc không ngứa, không đau, xét nghiệm huyết thanh giang mai (+).

- ban mày đay.

- Vảy nến thể chấm giọt

- Viêm da liên cầu

Điều trị bệnh vảy nến phấn hồng:
Trong đa số các trường hợp, vẩy phấn hồng sẽ tự khỏi bệnh sau 4-8 tuần không cần phải dùng thuốc. Việc điều trị chủ yếu là kiểm soát triệu chứng ngứa. Các thuốc kháng virus(acyclovir, famciclovir) hay kháng sinh (erythromycin) có thể rút ngắn thời gian kéo dài của vẩy phấn hồng xuống 1-2 tuần. Nếu bệnh nhân ngứa nhiều, bác sĩ điều trị có thể dùng thêm:

Kem, pommade có Steroid : Elomet, Flucinar, Diprosone, Dermovate, Lorinden…giúp giảm ngứa và sang thương bớt đỏ.

Xà phòng có hắc ín, salicylic acid làm bong vẩy: Polytar bar, SASTID bar.

Thuốc kháng histamines : Cetirizine (Zyrtec) ,Fexofenadine (Allegra, Telfast) Diphenhydramine (Benadryl), Chlorpheniramine (Chlor-Trimeton), Clemastine (Tavist) , Loratadine (Claritin).

Quang trị liệu: Chiếu tia cực tím UVB vào sang thương da.
Để giảm cảm giác khó chịu, bệnh nhân đươc khuyên nên tắm nước ấm với dung dịch Calamine và tránh các hoạt động thể lực gây mồ hôi nhiều, nghỉ ngơi trong điều kiện nhiệt độ mát và thông khí tốt.

Điều trị triệu chứng là chính. Điều trị mạnh tại chỗ là không cần thiết. Tránh kích thích bởi tắm nóng, xà phòng và quần áo len. Để chống da khô, tránh kích thích có thể dùng cream corticoid.

Chiếu tia cực tím liều dưới đỏ da. Những cas nặng tốt nhất là chiếu UVA được coi là hiệu quả nhất.
Bôi dung dịch Rivanol 1 %o có thể cho kết quả tốt. Có tác giả còn cho uống cả Rivanol.

Uống kháng histamin tổng hợp, nếu cần cho uống một đợt corticoid. Bệnh có thể tự lành không cần điều trị. Nếu ngứa nhiều thì dùng thuốc kháng Histamin, an thần.

Nếu xác định có nguyên nhân gây bệnh bệnh vảy nến phấn hồng thì điều trị theo nguyên nhân.


Biến chứng bệnh vảy nến phấn hồng.
- Vẩy phấn hồng có thể gây ngứa nhiều, đặc biệt khi thân nhiệt bệnh nhân quá nóng.

- Các hồng ban có thể khỏi hoàn toàn không để lại dấu vết. Tuy nhiên nếu da bệnh nhân sâm màu, tại các vị trí của sang thương mất đi có thể còn lưu lại các đốm nâu.

TIẾN GẦN ĐẾN PHƯƠNG PHÁP MỚI ĐIỀU TRỊ BỆNH VẨY NẾN

Các nhà khoa học Israel thuộc Đại học Ben Gurion đang tiến gần tới việc tìm ra công thức điều chế một loại thuốc có thể chữa được bệnh về da liên quan tới cơ chế tự miễn dịch, được gọi là bệnh vẩy nến.


Giáo sư Amir Aharoni. (Nguồn: israel21c.org)

Công trình nghiên cứu này, do giáo sư Amir Aharoni của khoa Khoa học sự sống chủ trì, đã tìm ra cách ngăn chặn quá trình viêm nhiễm và bong da điển hình của bệnh vẩy nến.

Theo giáo sư Aharoni, bệnh vẩy nến xuất hiện do sự mất cân bằng tự nhiên giữa các dấu hiệu viêm và chống viêm.

Nhóm nghiên cứu đã tìm cách ngăn cản sự phân bào của protein có tên là IL17. Đây là loại protein gây viêm nhiễm và khi cơ thể sản sinh ra lượng protein này ở mức cao thì cơ thể sẽ phản ứng chống lại. Các nhà nghiên cứu đã phát triển một loại protein có tên IL17R có thể ngăn chặn quá trình sản xuất ra IL17.

Các nhà nghiên cứu Israel đã hoàn thành nghiên cứu giai đoạn đầu tiên ở chuột thí nghiệm được cấy da người nhiễm bệnh. Tuy nhiên còn phải mất một thời gian dài nữa phương pháp này mới được bắt đầu thử nghiệm trên bệnh nhân.

Giáo sư Aharoni cho biết, mặc dù các thí nghiệm trên chuột gần như đã thành công 100% song quá trình chữa bệnh theo hướng này mới chỉ bắt đầu và chưa thể nói trước được là sẽ mất bao nhiêu năm nữa để có thể hoàn thiện phương pháp chữa bệnh này.

Theo giáo sư Aharoni, kết quả thử nghiệm khả quan trên mở ra một hướng nghiên cứu mới đối với các loại bệnh khác liên quan tới cơ chế tự miễn dịch và bệnh ung thư. Nhóm nghiên cứu của ông cũng đã bắt đầu nghiên cứu bệnh viêm khớp vì cho rằng liệu pháp protein rất hữu ích trong việc chữa trị loại bệnh này.

THẾ NÀY CÓ PHẢI ĐÃ BỊ VẨY NẾN KHÔNG?


Gần đây, da tay và chân tôi xuất hiện những mảng sần sùi màu trắng, rất ngứa. Có phải tôi đã mắc bệnh vảy nến, bệnh này có khỏi được không thưa BS? (Trung - Hà Nội)

Vẩy nến ở khớp gối
Trả lời:
Qua câu hỏi của bạn, chúng tôi chưa thể khẳng định bạn bị bệnh vảy nến. Bạn có thể đến BV Da Liễu để được xác định. Tuy nhiên bạn có thể tham khảo về bệnh như sau: 

Vảy nến là do rối loạn biệt hóa lành tính của tế bào thượng bì. Nguyên nhân thường không có, các yếu tố liên quan như: di truyền, viêm nhiễm, thuốc (corticoide, lithium, tim mạch), stress. Bệnh thường lành tính, không ảnh hưởng đến sức khỏe nhưng ảnh hưởng đến thẩm mỹ, tỷ lệ mắc bệnh ở nam nhiều hơn nữ, hay xuất hiện ở vùng da đầu, vùng da bị tì đè, khu trú ở một nơi hoặc rải rác nhiều nơi trên cơ thể. 


Bệnh thường xuất hiện từng đợt hoặc theo mùa nên việc điều trị vảy nến rất phức tạp, kéo dài và điều trị chỉ khỏi nhất thời. Người mắc bệnh trong chế độ ăn hằng ngày nên ưu tiên ăn cá, rau củ tươi, hạn chế ăn thịt, trứng, sữa, các đồ uống có chất kích thích. Bên cạnh đó, phải tắm mỗi ngày để loại bỏ vảy bám trên da. Tránh nước quá nóng, xà bông, rượu, các thuốc tim mạch, stress. Lau da nhẹ nhàng sau đó, thoa dung dịch, kem, mỡ salicyle 5% làm mềm da, bong vảy, tiêu sừng.

MỘT SỐ CÁCH CHỮA VẨY NẾN ĐƠN GIẢN NHẤT HIỆN NAY


- Cách giúp giảm bệnh vẩy nến hiệu quả nhất được nhiều bác sĩ khuyên dùng là ngâm mình (hoặc phần da bị vẩy nến) trong nước ấm từ 10 đến 15 phút, sau đó bôi thuốc dưỡng ẩm làm mềm da để giúp da mềm và ẩm hơn.


- Dùng thuốc mỡ axit salixilic để làm mềm da và thuốc này cũng giúp bong các vẩy nến trên da.
Làm mềm da cũng như làm bong tế bào chết

- Dùng kem chứa thành phần steroid cũng có hiệu quả, tuy nhiên vì loại này cũng có thể gây hại đến da nên cần được hỏi bác sĩ tư vấn xem có thích hợp với loại da của bạn không.

- Dùng thuốc mỡ chứa thành phần calcipotriene vì nó liên kết với vitamin D và cho kết quả tốt như kem hydrocortisone để điều trị vẩy nến.

- Thuốc mỡ có chứa thành phần nhựa than đá và dầu gội có thể làm giảm các triệu chứng của bệnh nhưng thuốc này dễ gây tổn thương vùng da xung quanh. Thuốc này bạn cần phải hỏi ý kiến của bác sĩ.

- Thuốc mỡ Anthralin sau khi bôi khoảng 10 - 30 phút thì cho tác dụng làm bong các vẩy nến, tạo tế bào da mới và tế bào da bình thường. Tuy nhiên thuốc mỡ anthralin có thể làm da bạn bị tấy đỏ lên và phải sau vài tuần mới hết được.

- Đơn thuốc chứa vitamin A thì không có tác dụng bằng steroid nhưng phụ nữ đang ở độ tuổi sinh đẻ thì nên dùng thuốc này hơn. Tuy nhiên đơn thuốc chữa vẩy nến cần phải được tư vấn từ bác sĩ để đảm bảo an toàn cho cả mẹ và bé.

MẮC BỆNH VẨY NẾN, VỢ BỎ ĐI VÌ NGHĨ MẮC BỆNH HIV- AIDS


Ông Nguyễn Văn Nam, 60 tuổi ở Nam Định bị bệnh vảy nến đã 27 năm. Kể từ khi ông mắc bệnh cũng là lúc vợ con ông bỏ đi vì họ nghĩ ông mắc căn bệnh thế kỷ, HIV- AIDS.


Ông Nam bị bệnh vảy nến gần 30 năm, đến nay bệnh vẫn chưa khỏi. Ông cho biết, các bác sĩ không thể tìm ra căn nguyên gây bệnh này. Từ ngày ông Nam bị bệnh, vợ con ông bỏ đi vì họ không dám đến gần. Ông ngậm ngùi chia sẻ: “Tôi bị bệnh cách đây 30 năm, đất cát bán hết để lấy tiền điều trị. Mỗi đợt tôi điều trị bệnh cũng mất từ 30-40 triệu”.
Hình ảnh vẩy nến khiến da bị tổn thương
Cũng trong tâm trạng lo lắng vì sợ chồng con sẽ bỏ mình vì căn bệnh này, chị Thu Hà, 29 tuổi ở Hoàng Mai, Hà Nội chia sẻ: “Mình bị bệnh vấy nến đã 10 năm nay, chữa trị cũng nhiều nhưng chẳng khỏi. Mình đã có chồng, có con nhưng nhiều lúc rất ngại phải giao tiếp với mọi người vì sợ họ nhìn thấy các điểm đóng vẩy trên đầu, người, thậm chí các móng chân gần như thối hết, bàn tay co quắp lại... Bản thân không làm được việc gì giúp gia đỡ gia đình. Mình chỉ sợ chồng con sẽ bỏ vì căn bệnh này”.

Trên thực tế, những bệnh nhân mắc bệnh vảy nến đang điều trị tại Bệnh viện Da Liễu Trung ương đều trong tâm trạng lo lắng vì biến chứng của căn bệnh này. Qua tìm hiểu, điều bệnh nhân vảy nến sợ nhất chính là tính thẩm mỹ. Chị Lan 35 tuổi ở Gia Lâm, Hà Nội ngậm ngùi: “Bệnh của tôi có lúc phát trên da đầu, bóc ra từng mảng trắng, ngứa ngáy thậm chí bốc mùi hôi khó chịu, nhiều người không dám ngồi cạnh ăn cơm. Tôi chỉ mong có cách giảm bớt hoặc điều trị dứt điểm căn bệnh này”.

Trao đổi với chúng tôi về căn nguyên của bệnh, BS Trần Hồng Trường – Chủ tịch Chi hội Vẩy nến Việt Nam cho biết: “Bệnh vảy nến là bệnh mạn tính, tái đi tái lại, không lây xảy ra do tình trạng tăng sinh của lớp tế bào thượng bì ở da. Đối với da người bình thường thời gian đổi mới của tế bào thượng bì là khoảng 4 tuần, đối với da người bị vảy nến thời gian này giảm xuống còn 4 ngày đến 1 tuần. Kết quả da người bệnh sẽ có những mảng đỏ và nhiều lớp vảy nằm trên mảng đỏ đó.

Bệnh vảy nến chiếm khoảng 2% dân số, có thể gặp ở mọi lứa tuổi thường khởi phát ở lứa tuổi 30- 40. Bệnh xảy ra ở mọi giống người, nam nữ đều có khả năng mắc bệnh như nhau. Người lớn thường bị bệnh hơn trẻ em. Cho đến nay nguyên nhân gây bệnh vẫn chưa được tìm ra. Nhiều nghiên cứu cho rằng sự bất thường về miễn dịch là nguyên nhân chính gây bệnh. Thêm vào đó các yếu tố như di truyền, xáo trộn sinh hóa, chấn thương tâm lý, nhiễm siêu vi, sử dụng thuốc ức chế Beta điều trị cao huyết áp... làm thúc đẩy phát sinh bệnh vảy nến”.

BS Trường còn cho biết, bệnh vảy nến mang đến sự khó chịu, ngứa ngáy, đau đớn tại các tổn thương trên da gây nứt và chảy máu. Những người mắc căn bệnh này thường có cảm xúc bối rối, xấu hổ và thường che dấu làn da của mình để tránh dị nghị của những người không có thông tin về căn bệnh này. Bản thân ông cũng chứng kiến không ít bệnh nhân và người nhà bệnh nhân nhầm lẫn bệnh vảy nến với các bệnh truyền nhiễm khác như bệnh phong, bệnh giang mai thậm chí cả HIV/AIDS. Từ những điều này khiến bệnh nhân bị trầm cảm, thất vọng chán nản, nghiện ngập và tử vong sớm.

Nói về khả năng chữa trị căn bệnh vảy nến ông Trường khẳng định: “Có nhiều phương pháp điều trị vảy nên nhưng hiện vẫn chưa có cách nào điều trị khỏi hẳn. Tuy nhiên, nếu biết cách phòng ngừa thì bệnh có thể ít tái phát hoặc tái phát ở mức độ nhẹ, tạo điều kiện cho bệnh nhân chung sống tốt nhất”.

BS Trường nhấn mạnh: "Bệnh vảy nến là bệnh không lây vì thế cộng đồng không nên e ngại khi tiếp xúc với người bệnh. Sự hòa nhập, không kỳ thị của cộng đồng là điều quan trọng giúp bệnh nhân giảm gánh nặng bệnh tật".

KHÁI NIỆM VỀ VẨY NẾN


Vảy nến (Psoriasis) là một bệnh ngoài da mãn tính, hay tái phát với đặc trưng là những mảng hồng ban có vảy trắng bạc và dính rất ngứa, thường có trên khuỷu tay, cánh tay trước, đầu gối, chân, da đầu...


Bệnh vảy nến do rối loạn biệt hóa lành tính của tế bào thượng bì (da), điều trị rất khó khăn, dễ gây chán nản vì không có thuốc đặc trị.

Vẩy nến ở chân
Bệnh có ở 1,5-2% dân số thế giới, gặp nhiều ở vùng Bắc Âu với tỷ lệ 1,5 - 3% và 7-10% tổng số các bệnh nhân đến các phòng khám da liễu ở Việt Nam với di truyền tính trội.

Đến nay, dù chưa hiểu được hết căn nguyên của bệnh nhưng các nhà khoa học thấy có một số nguyên nhân chính:

Yếu tố di truyền: 70% trường hợp song sinh cùng mắc, 30% trường hợp có yếu tố gia đình.

Yếu tố tâm lý: Bệnh gia tăng hoặc tái phát liên quan chặt chẽ tới stress.

Nhiễm khuẩn: Yếu tố này thấy rõ ở trẻ em, nhất là với vảy nến thể giọt, bệnh giảm khi dùng kháng sinh penicillin.

Vai trò của thuốc: Bệnh gia tăng khi dùng các loại thuốc như kháng sốt rét tổng hợp, lithium. Đặc biệt, sử dụng corticoid đường toàn thân làm bệnh nặng lên khi dừng thuốc và tiến triển sang thể đỏ da toàn thân hoặc thể mủ.

Triệu chứng

Đặc điểm bệnh rất dễ nhận thấy bởi những tổn thương riêng lẻ có giới hạn rõ. Người bệnh thấy xuất hiện các đám mảng đỏ kích thước khác nhau, từ vài milimet đến vài chục centimet, hơi gồ cao, nền cứng cộm. Vảy nhiều tầng, nhiều lớp, dễ bong, khi cạo vụn ra như bột phấn, như vết nến rơi lả tả. Vảy tái tạo rất nhanh, số lượng nhiều. Thương tổn mới xuất hiện trên các vùng bị kích thích như gãi, tiêm, mổ; kích thích lý hóa... thường xuất hiện đầu tiên ở vùng da đầu và vùng bị tỳ đè, sau vành tai, khuỷu tay, đầu gối, hông, vùng cơ quan sinh dục. Đôi khi bệnh lan khắp cơ thể. Có khi còn gặp vảy nến ở nếp gấp hay dạng đỏ da lan tràn toàn thân và khó điều trị. Móng tay, lông mày, rốn, hậu môn cũng thường bị bệnh trong 60% các trường hợp.

Vảy nến là bệnh không lây lan (trừ khi bệnh xâm nhập xương khớp hoặc nhiễm độc), không gây ảnh hưởng xấu cho sức khỏe, chỉ ảnh hưởng tâm lý, buồn phiền vì da... chẳng giống ai.

Điều trị

Hiện nay không có trị liệu nào dứt được bệnh vảy nến, mà chỉ làm dịu tạm thời.

Thường thường, vảy nến được chữa theo ba phương thức:

1- Thuốc bôi ngoài da: Loại Corticosteroids như ultravate, tenovate, psorcon; Loại Donovex thuộc nhóm vitamin A analog; Loại Topical Retinoid như tazorac; Nhóm Coal Tar; Acid Salycylic 5%, dầu hắc ín, dithranol, calcipotriol, tazanotene.

2- Điều trị toàn thân với methotrexate, cyclosporine, saulfasalazine, acitretin.

Các loại thuốc này phải được bác sĩ kê đơn và theo dõi vì chúng khá độc.

Bệnh vảy nến có thể chữa bằng Skin cap Spray.

Tháng 1/2003, FDA chấp thuận cho tiêm thuốc amevive (alefacept) dược phẩm sinh học tác dụng trên tế bào miễn dịch T cell để trị bệnh nghi là do miễn dịch gây ra.

3- Trị liệu bằng thuốc đông y.Hiện ở Việt Nam thường ứng dụng công trình nghiên cứu của Lương Y nhân dân Lâm Tuệ Phương về sử dụng đông y trong việc kiềm chế đẩy lùi căn bệnh vẩy nến.

HỎI ĐÁP VỀ BỆNH VẨY NẾN


Thưa bác sĩ, Hiện tại tôi bị ngứa và chóc vẩy ở đầu móng tay,đầu đi khám bs nói đó là bệnh vẩy nến. Cho tôi hỏi đó có phải không? Xin hỏi nguyên nhân, triệu chứng và cách chữa trị. Nên dùng kiên những thức ăn và uống gì? Chân thành cảm ơn.
(ĐỒNG QUỐC DUY)


Triệu chứng của bệnh vẩy nến

Trả lời: 

Bệnh vẩy nến là do sự rối loạn điều tiết tạo nên một màng ngăn bám chặt trên da. Màng bám này sản sinh tế bào nhanh gấp 10 lần so với bình thường rồi chết. Nhưng thay vì mất đi như tế bào chết bình thường thì nó nổi lên thành từng vẩy trắng.

Chúng thường xuất hiện ở đầu gối, khuỷu tay, da đầu nhưng đôi khi cả ở thân thể, gan bàn tay, bàn chân và các ngón chân.

Triệu chứng của bệnh vẩy nến bao gồm:

- Các tế bào da chết dày lên, những nốt vẩy da gây ngứa, các vẩy như vẩy cá trên da ngày càng phát triển. Sâu dưới vẩy có màu hồng còn phía trên vẩy da thì màu trắng.

- Các vẩy này phát triển trên da đầu, đầu gối, khuỷu tay, phần trên của thân là nhiều. Tuy nhiên, khi chúng phát triển ở móng tay và móng chân, thì các vẩy trở nên dày hơn, sần sùi và không màu.

- Những vẩy như vẩy cá, màu đỏ gây tổn thương da ở lòng bàn tay với các mụn nhỏ là dấu hiệu của vẩy nến ở lòng bàn tay, và xuất hiện dấu hiệu tương tự gọi là vẩy nến ở bàn chân. Và nó liên quan đến các khớp, dễ phát triển thành bệnh viêm khớp vẩy nến.

Một số cách chữa bệnh vẩy nến như sau:

- Cách giúp giảm bệnh vẩy nến hiệu quả nhất được nhiều bác sĩ khuyên dùng là ngâm mình (hoặc phần da bị vẩy nến) trong nước ấm từ 10 đến 15 phút, sau đó bôi thuốc dưỡng ẩm làm mềm da để giúp da mềm và ẩm hơn.

- Dùng thuốc mỡ axit salixilic để làm mềm da và thuốc này cũng giúp bong các vẩy nến trên da.

- Dùng kem chứa thành phần steroid cũng có hiệu quả, tuy nhiên vì loại này cũng có thể gây hại đến da nên cần được hỏi bác sĩ tư vấn xem có thích hợp với loại da của bạn không.

- Dùng thuốc mỡ chứa thành phần calcipotriene vì nó liên kết với vitamin D và cho kết quả tốt như kem hydrocortisone để điều trị vẩy nến.

- Thuốc mỡ có chứa thành phần nhựa than đá và dầu gội có thể làm giảm các triệu chứng của bệnh nhưng thuốc này dễ gây tổn thương vùng da xung quanh. Thuốc này bạn cần phải hỏi ý kiến của bác sĩ.

- Thuốc mỡ Anthralin sau khi bôi khoảng 10 - 30 phút thì cho tác dụng làm bong các vẩy nến, tạo tế bào da mới và tế bào da bình thường. Tuy nhiên thuốc mỡ anthralin có thể làm da bạn bị tấy đỏ lên và phải sau vài tuần mới hết được.

- Đơn thuốc chứa vitamin A thì không có tác dụng bằng steroid nhưng phụ nữ đang ở độ tuổi sinh đẻ thì nên dùng thuốc này hơn. Tuy nhiên đơn thuốc chữa vẩy nến cần phải được tư vấn từ bác sĩ để đảm bảo an toàn cho cả mẹ và bé.

Lưu ý khi chăm sóc da

- Khi bạn phơi nắng, dù tia cực tím chưa đủ để làm cháy nắng làn da của bạn nhưng cũng đủ để gây thương tổn cho da, nhất là lúc này da bạn đang bị rối loạn điều tiết sinh ra bệnh vẩy nến. Vì vậy cần tránh tiếp xúc với tia cực tìm càng nhiều càng tốt.

- Ngoài ra để tránh bệnh vẩy nến phát triển và lan rộng bạn cần tránh làm tổn thương da, côn trùng cắn, nhiễm vi khuẩn và vi rút, cháy nắng, stress, rượu và tăng cân.

- Nếu bệnh vẩy nến trở nên nặng và khó chữa thì có thể bạn chọn phương pháp dùng tia PUVA kết hợp với thuốc trị vẩy nến. Tuy nhiên cách này có thể làm tăng nguy cơ ung thư da hơn là bạn dùng tia UVB để điều trị mà cũng cho kết quả tương tự.

Hãy đến khám bác sĩ nếu:

- Bệnh vẩy nến của bạn trở nên tồi tệ hơn sau khi bạn ngừng dùng thuốc corticosteroid (thuốc hen). Có thể bạn cần một đơn thuốc khác để điều trị bệnh này.

- Những tổn thương da của bạn không phản ứng lại với bất kỳ cách điều trị nào, thì cần phải kiểm tra lại những thương tổn dưới da.

Chế độ dinh dưỡng cho người bị vảy nến

Có nhiều phương pháp điều trị bệnh vảy nến, nhưng hình thức thường được áp dụng vẫn là các loại thuốc có chứa corticosteroid. dù vậy hiệu quả vẫn chưa được như mong muốn vì hai trở ngại cơ bản:

- Bệnh không dứt hẳn sau khi ngưng thuốc.

- Thuốc có nhiều phản ứng phụ tai hại không thua căn bệnh.

Hiện nay có khuynh hướng trở về với dinh dưỡng liệu pháp nhằm vận dụng hoạt chất dễ dung nạp trong thực phẩm để thay thế các chất dễ gây hại trong dược phẩm.

Thực phẩm ưu tiên:

Cá biển: loại có nhiều 3-Omega như cá hồi, cá thu, cá saba… Nghiên cứu cho thấy nếu dùng 150g mỗi ngày trong nhiều ngày liên tục có thể giảm lượng thuốc corticosteroid đến phân nửa mà không mất hiệu năng của thuốc nhờ 3-Omega có tác dụng ức chế các chất sinh viêm trong bệnh vảy nến như leucotriene 3 và 5.

Rau quả: có nhiều beta-carotin như trái bơ, cà rốt và đặc biệt là xoài để bảo vệ cấu trúc mong manh của da.

Mè đen: vừa chứa dầu béo có cấu trúc tương tự 3-Omega, vừa cung cấp sinh tố E cần thiết cho lớp sợi liên kết (collagen) dưới da.

Bông cải xanh: để bổ sung acid folic là tác nhân sinh học giữ vai trò quan trọng trong tiến trình tổng hợp kháng thể. Chất này lại rất dễ thiếu trong bệnh vảy nến.

Nghêu sò: nhằm cung ứng kẽm, khoáng tố tối cần thiết không chỉ cho da mà cho sức đề kháng. Người bị vảy nến không nên có định kiến phải tránh hải sản vì sợ đó là các món ăn vào thêm ngứa. Quan điểm đó chỉ đúng nếu người bệnh dị ứng với hải sản nào đó.

Và hạn chế:

Rượu bia: vì độ cồn là đòn bẩy cho phản ứng thoái biến các loại chất đạm có tác dụng sinh dị ứng. Hơn nữa, tiến trình giải độc rượu của gan bị trì trệ rất nhiều ở người có cơ địa vảy nến.

Kết luận

Vẩy nến là bệnh hơi khó trị, cần kiên nhẫn. Bác sĩ lo chọn lựa thuốc, bệnh nhân cũng cần hợp tác với bác sĩ và tự chăm sóc bệnh của mình.

-Tắm mỗi ngày để loại bỏ vẩy bám trên da. Tránh nước quá nóng, xà bông quá mạnh làm da thêm khô ngứa. Lau da nhẹ nhàng tránh gây tổn thương thêm.

-Pha dầu tắm như Epson, Dead Sea salt, dầu thực vật trong bồn nước, ngâm mình khoảng 15 phút cho da mềm.

-Ngay sau khi tắm, da còn hơi nước, thoa các loại kem làm ẩm da. Mùa lạnh khô, cần thoa kem làm ẩm da nhiều lần trong ngày.

-Nhớ thoa và dùng thuốc trị bệnh do bác sĩ chỉ định

-Giữ hẹn tái khám để bác sĩ theo dõi tiến triển bệnh, thay đổi trị liệu.

-Phơi nắng nhẹ cũng giúp phần nào nhưng đừng để da cháy nắng

-Tránh gãi chỗ ngứa. Giữ da ấm.

-Tìm hiểu thêm về bệnh để biết cách chăm sóc, tránh tái phát hoặc trầm trọng hơn.

Đôi khi người bệnh cũng nên có thái độ hòa hoãn, sống chung hòa bình với Vẩy Nến, một bệnh tương đối lành tính, tuy khó chữa, nhưng không gây hậu quả hiểm nghèo như nhiều bệnh khác.
(Lưu ý: Chữa bệnh theo chỉ định của Bác sĩ)

THUỐC TRỊ VẨY NẾN THỂ MỦ




Thuốc có thể dùng là: steroids toàn thân đặc biệt là trường hợp mắc bệnh nặng có viêm khớp vì thuốc có tác dụng nhanh kể cả triệu chứng viêm khớp, nhưng đó chỉ là tác dụng tạm thời.


 Mặt khác, steroids đã được xác định là có liên quan đến khởi phát vẩy nến thể mủ, đặc biệt là sau khi ngừng điều trị thì bệnh tái phát nặng hơn, còn gọi là hiện tượng “bật bóng”. 
Vẩy nến bị cả ở mắt

Vì vậy, việc sử dụng steroids trong điều trị cần phải rất thận trọng. Methotrexat và một số thuốc ức chế miễn dịch khác: các nghiên cứu đã cho thấy điều trị bằng methotrexat kết quả thường chậm nhưng tiên lượng lâu dài lại tốt hơn so với steroids.

 Tuy dùng methotrexat bệnh vẫn có thể tái phát khi dừng thuốc, nhưng không thấy hiện tượng bệnh tăng nặng như dùng các steroids. Vitamin A được đánh giá là có tác dụng tốt trong điều trị vẩy nến thể mủ, nhưng cần lưu ý không được dùng cho trẻ dưới 12 tuổi.

Mỗi thuốc điều trị bệnh vẩy nến thể mủ đều có những ưu điểm và hạn chế. Mức độ nặng và đáp ứng với điều trị tương đối khác nhau ở các bệnh nhân. Hiểu biết về hiệu quả và phản ứng phụ của các thuốc trước khi bắt đầu điều trị là rất cần thiết.

Biện pháp quang trị liệu (PUVA) có tác dụng ức chế tổng hợp AND của tế bào ở thượng bì, giảm số lượng tế bào trình diện kháng nguyên hoặc tế bào langerhans và giảm khả năng trình diện kháng nguyên của chúng. Ức chế sản xuất cytokine từ tế bào lympho T và ức chế phóng thích các chất trung gian hóa học.

ThS. Nguyễn Thị Thu Hà

THỜI TIẾT THAY ĐỔI LÀ ĐIỀU KIỆN TỐT ĐỂ PHÁT BỆNH VẨY NẾN



Mùa đông đã đi qua hơn một nửa và mọi người đang háo hức chờ đón một mùa xuân mới đến. Nhưng đối với một số người, thời tiết lạnh của mùa đông hay cả cái rét ngọt của mùa xuân là một nỗi sợ, không phải họ không chịu được lạnh hay không… đủ quần áo ấm mà vì bị một chứng bệnh có liên quan đến nhiệt độ thấp: chứng dị ứng do lạnh.
Thế nào là dị ứng do lạnh?

Dị ứng do lạnh là hiện tượng các phản ứng dị ứng của cơ thể xảy ra khi nhiệt độ xuống thấp. Hiện tượng này thường biểu hiện khi nhiệt độ môi trường xuống thấp dưới 4,4oC nhưng cũng có những người bị dị ứng ở nhiệt độ cao hơn. Ngoài ra, gió và độ ẩm cao cũng là những yếu tố góp phần vào việc gây dị ứng khi nhiệt độ xuống thấp.



Bác sĩ Bệnh viện Da liễu Hà Nội đang khám cho một bệnh nhân bị ngứa da do lạnh. 

Nguyên nhân của chứng dị ứng do lạnh đến nay vẫn chưa được xác định rõ. Có thể da của những người bị chứng bệnh này trở nên nhạy cảm hơn khi nhiệt độ xuống thấp. Dị ứng do lạnh cũng có thể liên quan đến yếu tố di truyền, viêm nhiễm virut hoặc một số các yếu tố bệnh lý khác. Nhiệt độ thấp là một tác nhân kích thích sự giải phóng các chất như histamin gây các phản ứng dị ứng toàn thân hoặc khu trú.

Ai có nguy cơ bị dị ứng do lạnh?

Dị ứng do lạnh có thể xảy ra ở mọi nhóm tuổi và không có sự khác biệt giữa nam và nữ. Tuy nhiên, người ta thấy ở lứa tuổi thiếu niên, nhi đồng thì hay bị hơn và các triệu chứng của bệnh thì giảm dần khi trẻ lớn lên. Dị ứng do lạnh cũng gặp ở người sau nhiễm virut, sau viêm phổi do mycoplasma… Người mắc các bệnh mạn tính như viêm khớp dạng thấp, viêm gan, các bệnh tim phổi mạn tính cũng có nguy cơ cao bị dị ứng khi nhiệt độ xuống thấp. Gần đây, một số nghiên cứu cũng cho thấy chứng dị ứng do lạnh có tính chất gia đình (liên quan đến gen), một gia đình có nhiều người cùng bị bệnh hoặc ở những gia đình có người mắc các bệnh tự miễn cũng dễ dàng bị dị ứng khi lạnh hay có biểu hiện hội chứng giả cúm do thời tiết.

Biểu hiện

Biểu hiện của dị ứng do lạnh bao gồm các triệu chứng như mẩn ngứa, nổi ban đỏ vùng da bị tiếp xúc với không khí lạnh. Ngoài ra, tay, chân bệnh nhân có thể nề đỏ, ngứa nhiều sau khi cầm các đồ vật có nhiệt độ thấp, phù nề môi, lưỡi, thanh môn sau ăn kem, nước đá. Trường hợp bệnh nhân bị phù nề thanh môn có thể gây suy hô hấp cấp và tử vong nhanh nếu không được cấp cứu kịp thời. Một số trường hợp có biểu hiện toàn thân khi bệnh nhân tắm trong nước lạnh hoặc đi vào vùng thời tiết quá lạnh mà không đủ quần áo ấm. Trong những trường hợp này, các biểu hiện toàn thân có thể có như ngất xỉu, tụt huyết áp, mẩn đỏ hoặc phù quink toàn thân, hết sức nguy hiểm và có thể gây tử vong cho bệnh nhân.

Biểu hiện dị ứng của cơ thể do lạnh thì rất khác nhau ở từng đối tượng cả về mức độ và thời giai. Có bệnh nhân chỉ mẩn ngứa nhẹ do lạnh và triệu chứng hết nhanh trong vòng nửa giờ sau khi thôi tiếp xúc với không khí hoặc vật thể lạnh trong khi người khác thì có phản ứng dữ dội toàn thân và các triệu chứng chỉ mất đi sau nhiều ngày, thậm chí nhiều tháng.

Điều trị thế nào?

Việc xử trí chứng dị ứng do lạnh phụ thuộc vào mức độ nặng nhẹ của triệu chứng. Việc đầu tiên là tách bệnh nhân ra khỏi môi trường hoặc vật thể gây lạnh như đưa bệnh nhân từ ngoài trời lạnh vào nhà, ủ chăn hoặc sưởi ấm. Nhiều khi các triệu chứng giảm hẳn sau khi bệnh nhân không còn bị lạnh. Sau đó, có thể cho bệnh nhân uống nước ấm và sử dụng một số thuốc chống dị ứng như kháng histamin, prednisolon (đường uống hoặc tiêm nếu cần). Trường hợp bệnh nhân có biểu hiện nặng, phải tuân thủ theo các phác đồ cấp cứu như đảm bảo hô hấp, tuần hoàn, khí dung adrenalin (nếu có phù thanh môn gây suy hô hấp cấp) hoặc tiêm (dưới da, tĩnh mạch) nếu có biểu hiện như sốc phản vệ cộng thêm với các thuốc đường tĩnh mạch khác như methylprednisolon đồng thời theo dõi bệnh nhân hết sức chặt chẽ. Sau khi bệnh nhân đã ổn sẽ chuyển sang dùng các thuốc theo đường uống cho tới khi hết các triệu chứng.

Cần giữ ấm cơ thể

Người bị dị ứng do lạnh nên tránh đi ra ngoài trời lạnh hoặc chú ý mặc ấm, khăn quàng bịt mặt hoặt đeo khẩu trang dày khi phải ra ngoài để tránh hít thở không khí quá lạnh; nên tránh tiếp xúc hoặc ăn uống những đồ lạnh quá như nước đá, bia lạnh; những người có sở thích bơi lội nên tránh đi bơi hoặc bơi tại các bể bơi trong nhà hoặc nước đã được sưởi ấm. 

Tất cả những người có tiền sử đã bị hoặc có nguy cơ bị dị ứng do lạnh nên được tư vấn bởi những thầy thuốc chuyên khoa dị ứng để tự chủ động phòng ngừa và xử trí khi có biểu hiện dị ứng xảy ra do lạnh. Ở những người thường xuyên bị dị ứng do lạnh, có thể uống thuốc kháng dự phòng ngay trước khi phải làm việc hoặc đi vào vùng có nhiệt độ thấp.

BỆNH VẨY CÁ KHÁC VỚI VẨY NẾN



Bệnh vẩy cá gồm một nhóm các bệnh có đặc trưng là vẩy da khô ráp giống như vẩy cá, lan tỏa, không viêm, tồn tại lâu. Tuy các thể bệnh vẩy cá ít ảnh hưởng đến sức khỏe người bệnh nhưng lại gây ra nhiều phiền toái về thẩm mỹ. Hiểu biết các thể bệnh sẽ giúp chúng ta chăm sóc người bệnh tốt hơn.


Vẩy cá thể thông thường
Vẩy cá bẩm sinh thể thông thường thường gặp nhất, đây là bệnh di truyền gen trội, hiếm khi biểu hiện nặng, tỷ lệ mắc khoảng 1/250. Khoảng 37 - 50% trường hợp mắc đồng thời với viêm da cơ địa hay các bệnh dị ứng khác như viêm mũi dị ứng, hen...


Bệnh vẩy cá thể thông thường.

Dấu hiệu lâm sàng gồm: Da khô, bong vẩy khi sơ sinh, hoặc khoảng 2 tháng sau sinh hay muộn hơn. Vẩy da có màu trắng xám, nhỏ mịn, mảnh nhỏ cuộn tròn bám nửa vào da. Da toàn thân có thể bong vẩy bất thường nhưng chủ yếu ở mặt duỗi, nhất là ở cẳng chân. Tổn thương ở thành bụng nhưng vùng bẹn bình thường. Trên mặt, tổn thương có ở trán, quanh miệng, có thể có gàu nhẹ ở da đầu. Ở bàn tay, bàn chân, các vân tay trở nên rõ do bị dày sừng nhẹ. Không tổn thương lông, tóc, móng và răng, niêm mạc, mắt. Bệnh nhẹ dần khi tuổi càng cao. Bệnh nhân có cảm giác da khô, ráp và thiếu tự tin vì vấn đề thẩm mỹ. Nếu chỉ bị vẩy cá đơn thuần thì không bị ngứa nhưng nếu phối hợp với viêm da cơ địa thì thường kèm theo ngứa, gãi có thể gây dày da liken hóa và các vết xước. Bệnh thường bớt khi đến tuổi dậy thì, tuy nhiên cũng có một số bệnh nhân lại bị nặng lên.

Điều trị: Bệnh nhân cần được ở trong môi trường ấm, có độ ẩm vừa phải. Điều trị bằng cách bôi các kem dịu da, mềm da. Nếu bệnh nặng phải bôi các chế phẩm có parafin. Những người do bận làm việc không bôi kem đều đặn được thì có thể dùng sữa tắm có kem. Nếu dùng mỡ salicylic 3 - 5% thì có tác dụng làm bong vẩy, nhưng dễ gây kích ứng và nhiễm độc nếu bôi diện rộng. Các loại acid hoa quả như lactat, glycolic, malic, citric, pyruvic... 5 - 10% chế phẩm dạng dầu hoặc kem, lotion có tác dụng làm dịu da, mịn da. Đối với bệnh nhân bị cả hai bệnh vẩy cá và viêm da cơ địa, cần phải sử dụng kem có corticosteroid.

Vẩy cá do nhiễm sắc thể X 

Đây là thể bệnh di truyền gen lặn của nam giới sinh ra từ bà mẹ mang gen bệnh nhưng không có triệu chứng, bệnh xuất hiện sớm sau sinh. Triệu chứng đặc trưng là vẩy da nhiều, màu nâu bẩn ở gáy, chi, thân mình và mông. Thể này chỉ gặp ở nam với tỷ lệ mắc phải 1/2.000 - 6.000. Gen bệnh là Xp22.32 ở nhiễm sắc thể X. Nếu nữ mang gen này thường không biểu hiện bệnh. Bệnh sinh do thiếu hụt men Steroid sulfatase. Triệu chứng thường xuất hiện sớm ngay sau khi sinh hoặc tháng đầu tiên với tỷ lệ khoảng 75%. Biểu hiện vẩy da to, dính, màu nâu sẫm bẩn, hình đa giác. Tổn thương hay thấy ở mặt gấp, như vậy là trái ngược với vẩy cá thể thông thường, và mặt duỗi như sau cổ, quanh tai, vùng mặt - cằm, mặt duỗi cánh tay, nếp gấp khuỷu tay, khoeo chân. Tổn thương ít có ở vùng bụng, ngực, nhưng rõ hơn ở các vùng mặt duỗi tay, mặt ngoài đùi và cẳng chân. Tổn thương có thể ở da đầu, nách, mu tay, mu chân, nhưng bàn tay, bàn chân và mặt không bị tổn thương. Đục giác mạc ở khoảng 50% trường hợp. Đặc biệt triệu chứng tinh hoàn ẩn gặp khoảng 20% trường hợp, tinh hoàn lạc chỗ, vô sinh... Bệnh không nhẹ khi bệnh nhân lớn lên và thường biểu hiện nặng hơn vào mùa khô hanh.
Điều trị: Dùng thuốc bôi như với vẩy cá thể thông thường. Uống thuốc retinoid có hiệu quả đối với một số trường hợp nhưng cần thận trọng với các tác dụng phụ của thuốc và phải do bác sĩ chỉ định và theo dõi chặt chẽ.

Vẩy cá bong vẩy lá

Đây là thể bệnh thường xuất hiện ngay sau khi sinh với triệu chứng đứa trẻ có bọc màng, sau đó màng sẽ mất đi nhanh và xuất hiện các vẩy da lớn, thô trên da toàn thân bao gồm cả mặt gấp của chi, bàn tay, bàn chân. Bệnh làm ảnh hưởng lớn về thẩm mỹ.

Biểu hiện: Khi sinh ra trẻ đã bị bệnh với biểu hiện có màng bọc toàn thân, màng bọc trong và bong đi trong vài tuần, đỏ da toàn thân, lộn mi và lộn môi, da mặt căng. Trẻ nhỏ và người lớn có vẩy da như giấy ở toàn thân, trông như hình ảnh lát đá hoa. Vẩy da to, dày, màu nâu bao phủ khắp cơ thể, nặng nhất ở chi dưới. Da ở quanh khớp dày sừng có khi sùi cao lên. Dày sừng ở bàn tay, bàn chân, lòng bàn tay, bàn chân nứt. Có thể xuất hiện đỏ da toàn thân. Tóc có thể bị rụng do nhiễm khuẩn. Tổn thương gây sẹo, thường có màu nâu do vẩy da. Niêm mạc không bị tổn thương. Trẻ có nguy cơ bị mất nước, tăng natri huyết, bội nhiễm và nhiễm khuẩn huyết. Bệnh tồn tại suốt đời và không tiến triển nhẹ đi khi lớn lên. Dày sừng làm tắc các tuyến bài tiết mồ hôi, làm cho bệnh nhân không tiết được mồ hôi...

Điều trị bằng cách bôi các thuốc làm dịu da, mềm da. Bôi thuốc bong vẩy da và alpha - hydroxy acid, uống retinoid như trong trường hợp trên.

ThS. Phạm Thanh Xuân

ĐIỀU TRỊ BỆNH VẨY NẾN THỂ MỦ


Vẩy nến thể mủ là một trong những thể nặng nhất của bệnh vẩy nến. Bệnh có thể xuất hiện tiên phát hoặc thứ phát sau khi bệnh nhân đã mắc một bệnh vẩy nến thể nhẹ khác.

Bệnh vẩy nến trên da 



Vẩy nến thể mủ được chia thành hai nhóm dựa vào hình thái lâm sang: đó là vẩy nến thể mủ khu trú và vẩy nến thể mủ lan tỏa. Vẩy nến thể mủ khu trú thường giới hạn ở long bàn chân, lòng bàn tay. Còn với vẩy nến thể mủ lan tỏa, thương tổn thường lan rộng ra toàn thân, có thể de dọa đến tính mạng. Bệnh thường biểu hiện ban đầu bằng cơn sốt nhẹ kéo dài một ngày hoặc lâu hơn, sau đó bắt đầu có sự thay đổi trên da, ban đầu là đau rát ở vùng da sắp xuất hiện thương tổn, sau đó là dát đỏ, phù nề, trên có những mụn mủ vô khuẩn, toàn thân sốt cao, mệt mỏi. Bệnh nhân sốt cao có thể đến 40 độ, nhức đầu, thể trạng suy sụp. Các dát đỏ xuất hiện đột ngột, vùng da bị bệnh trở nên đỏ, căng và phù nề. Thương tổn lan tỏa nhanh thành các đám rộng và có thể lan ra toàn thân thành vẩy nến thể đỏ da toàn thân. Vị trí tổn thương hay bị nhất là các vùng nếp gấp, vùng sinh dục. Trên nền dát đỏ xuất hiện các mụn mủ kích thước nhỏ, nông, màu trắng sữa. Sau vài ngày mụn mủ xẹp, chuyển sang bong vảy. Ngoài ra vẩy nến thể mủ còn ảnh hưởng đến khớp, viêm khớp là thương tổn hay gặp trong vẩy nến thể mủ cả cấp tính và mạn tính, móng trở nên dày, đặc biệt là tình trạng làm mủ dưới móng và tách móng.

Về việc điều trị vẩy nến, các bác sĩ thường chỉ định steroids toàn thân để điều trị cho những bệnh nhân vẩy nến thể mủ nặng có kèm theo viêm khớp. Thuốc có tác dụng nhanh nhưng chỉ tạm thời, ngoài ra thuốc có liên quan đến khởi phát vẩy nến thể mủ, đặc biệt là khi ngừng điều trị thì bệnh tái phát càng nặng hơn nên phải rất thận trọng khi sử dụng và cần sự theo dõi của thầy thuốc. Điều trị bằng methotrexat và một số thuốc ức chế miễn dịch khác thường cho kết quả chậm, nhưng tiên lượng lâu dài tốt hơn so với dùng steroids vì khi dừng dùng thuốc methotrexat bệnh vẫn có thể tái phát, nhưng không thấy hiện tượng tăng nặng như dùng các steroids. Mỗi thuốc điều trị VNTM đều có những ưu điểm và hạn chế. Mức độ nặng và đáp ứng với điều trị là khác nhau ở từng BN. Hiểu biết về hiệu quả và phản ứng phụ của các thuốc trước khi bắt đầu điều trị là rất cần thiết.

Chính vì vẩy nến thể mủ là một thể đặc biệt (thể nặng), diễn biến lâm sàng phức tạp, ảnh hưởng nhiều đến chất lượng cuộc sống, đôi khi ảnh hưởng đến tính mạng của người bệnh nên để nâng cao hiệu quả điều trị và hạn chế tái phát, cần phải nắm vững các nguyên tắc chẩn đoán, đánh giá được mức độ bệnh và điều trị bệnh, lựa chọn đúng loại thuốc, liều lượng theo mức độ nặng của bệnh. Bên cạnh đó, bệnh nhân cần có tâm lý thoải mái, chung sống hòa bình với bệnh, thực hiện chế độ ăn uống, sinh hoạt điều độ cũng là yếu tố quan trọng giúp đẩy lùi bệnh tật.

Do lo ngại tác dụng phụ của thuốc tây, hiện nay các bác sĩ và bệnh nhân tin tưởng dùng các sản phẩm nguồn gốc thiên nhiên, không gây tác dụng phụ, cho hiệu quả bền vững, tiên phong trong số đó là Kim Miễn Khang. Sản phẩm là công thức toàn diện, phối hợp độc đáo giữa các thành phần thảo dược như: nhũ hương, hoàng bá giúp giảm viêm mạnh; sói rừng, nhàu giúp điều hòa miễn dịch; bạch thược, thổ phục linh giúp giải độc…, từ đó có tác dụng phòng ngừa, hỗ trợ điều trị và ngăn chặn vẩy nến thể mủ tái phát. Với những bệnh nhân bị vẩy nến thể mủ, việc dùng Kim miễn khang là hợp lý để giảm triệu chứng, tránh tái phát, tăng cường hệ miễn dịch.

DINH DƯỠNG BỆNH VẨY NẾN


Một chế độ dinh dưỡng hợp lí sẽ giúp cho bệnh nhân vẩy nến không những có sức khỏe tốt để có hệ miễn dịch khỏe mạnh mà còn giúp bệnh nhân ngăn ngừa những đợt tái phát. Vậy chế độ dinh dưỡng như thế nào là hợp lí, bạn nên ăn những món ăn gì? Hãy cùng tham khảo nhé
- Bệnh nhân nên sử dụng nguồn cung cấp protein cho cơ thể từ các loại cá giàu omega-3 như cá hồi, cá thu, cá ba sa, nghêu sò,…

- Ngũ cốc chưa qua chế biến (đậu xanh nguyên vỏ, gạo lức,…);

- Ăn các loại quả giàu beta-caroten như trái bơ, cà rốt, xoài để bảo vệ cấu trúc mong manh của da; ăn nhiều rau lá xanh, đặc biệt là cải xoăn; nên ăn mè đen bởi nó chứa dầu béo cần thiết không chỉ cho da mà còn tăng cường sức đề kháng.
Cá giàu omega-3
Hiện nay, bên cạnh chế độ dinh dưỡng, nhiều bệnh nhân đang tin tưởng lựa chọn sử dụng các sản phẩm nguồn gốc thiên nhiên, hiệu quả bền vững, không gây tác dụng phụ khi dùng lâu dài, nổi bật cho xu hướng đó là thực phẩm chức năng Kim Miễn Khang.

PHƯƠNG PHÁP AN TOÀN TRỊ VẨY NẾN


Ảnh minh họa



Vẩy nến là bệnh tự miễn do rối loạn hệ thống miễn dịch mà biểu hiện đặc hiệu ở cơ quan thượng bì, dẫn đến những triệu chứng ở bên ngoài da. Bệnh gặp ở mọi giới, mọi lứa tuổi, nam thường mắc nhiều hơn nữ. Bệnh chiếm từ 1-4% dân số thế giới.

Ở Việt Nam ước tính có khoảng 2,5 triệu người đang phải sống với căn bệnh này (chiếm khoảng 3% dân số). Những năm gần đây, số người mắc bệnh vẩy nến ngày một gia tăng. Bệnh phát từng đợt, thường xuyên tăng giảm theo mùa.

Biểu hiện đặc trưng của bệnh vẩy nến là các mảng bám trên da. Đó là các mảng màu hồng, bên trên là những lớp tế bào da chết, khi gãi hoặc cạo thì bong ra những mảng màu trắng, vụn như sáp nến. Bệnh vẩy nến không nguy hiểm đến tính mạng nhưng ảnh hưởng nghiêm trọng đến tâm, sinh lý và chất lượng cuộc sống của người bệnh. Những người mắc bệnh này thường có cảm xúc bối rối, xấu hổ và thường là che giấu làn da mắc bệnh của mình để tránh dị nghị của mọi người xung quanh. Do bệnh vẩy nến còn bị nhầm lẫn sang các bệnh truyền nhiễm khác như bệnh phong, giang mai, thậm chí cả HIV/AIDS nên nhiều bệnh nhân vẩy nến có thể bị trầm cảm, thất vọng làm cho quá trình điều trị càng thêm khó khăn. 

Việc điều trị vẩy nến hiện nay vẫn chưa có phương pháp đặc hiệu nào. Thông thường bệnh nhân được các bác sĩ kê cho uống thuốc làm ức chế miễn dịch và các thuốc bôi ngoài da. Các thuốc ức chế miễn dịch như methotrexate, cyclosporin...tỏ ra hiệu quả đối với bệnh vẩy nến, nhưng thường làm cho bệnh nhân mệt mỏi, khó chịu, ăn ngủ kém, đồng thời có khả năng làm suy giảm chứng năng gan, thận. Ngoài ra các thuốc trên còn có nguy cơ làm cho bệnh bị tái phát nặng hơn. Các thuốc bôi như: acid salicylic, kẽm...có tác dụng làm mềm da, bong vảy, bớt ngứa, nhưng chủ yếu chỉ làm giảm được triệu chứng của bệnh. Vì vậy mục tiêu điều trị hiện nay là phương pháp an toàn, hiệu quả, không độc hại khi chữa vẩy nến lâu dài.

Khi mắc vẩy nến điều quan trọng là người bệnh không nên bi quan, cần có chế độ sinh hoạt, ăn uống điều độ. Tránh ăn nhiều chất béo, tránh dùng rượu, bia, thuốc lá, cà phê, tránh chấn thương trầy xước, giữ tinh thần thoải mái, không thức khuya... Vì điều trị vẩy nến phải sử dụng nhiều thuốc độc hại nên gần đây người ta đã chuyển sang dùng các loại thuốc đông y vừa uống, vừa tắm làm bong da chết. Bài thuốc mà nhân dân ta hay dùng là kinh giới, rau má, bồ công anh, ké đầu ngựa, trinh nữ, xích đồng, thổ phục linh, vỏ gạo, hạ khô thảo, kim ngân, khổ sâm, xác ve sầu, đơn đỏ mỗi thứ 10-12g sắc uống, bã đun để tắm hoặc ngâm chân tay cho bong da chết. Thuốc dùng từ 1-3 tháng thì bệnh lui. Một sản phẩm khác sử dụng tiện lợi hơn là Kim Miễn Khang có L-carnitine fumarate, thổ phục linh, hoàng bá, nhàu, nhũ hương, bạch thược, sói rừng...có tác dụng chống viêm, điều hòa miễn dịch, giúp phục hồi và làm cân bằng hệ thuống miễn dịch của cơ thể, ức chế rất đặc hiệu và chỉ tác động với các tế bào miễn dịch bất thường, giúp bệnh khỏi và khó tái phát. Uống Kim miễn khang ngày 4-5 viên x 2 lần/ngày và liên tục từ 3-6 tháng mà không có tác dụng phụ.