Tìm kiếm Blog này

Hiển thị các bài đăng có nhãn ĐÔNG Y TRỊ VẨY NẾN. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn ĐÔNG Y TRỊ VẨY NẾN. Hiển thị tất cả bài đăng

BỆNH VẨY NẾN VÀ NHỮNG ĐIỀU CẦN LƯU Ý

Vẩy nến là bệnh ngoài da mạn tính rất khó điều trị và thường xuyên tái phát. Vị trí xuất hiện trước tiên thường là trên da đầu. Khi xuất hiện những dấu hiệu: da đầu bong nhiều vẩy trắng, bệnh nhân cần tới bác sĩ da liễu khám và có hướng điều trị kịp thời, tránh để bệnh nặng hơn.


Chị Phạm Thị Minh Thu ở tỉnh Điện Biên bị vẩy nến ở da đầu hơn 5 năm. Dù bôi thuốc hàng ngày nhưng chị vẫn bị bong nhiều vẩy, cảm giác rát ngứa, cạy ra thấy màu hồng ở dưới, tóc rụng dần… Chị rất lo lắng, xấu hổ và ngại tiếp xúc với mọi người.
Vẩy nến ở đầu
Dấu hiệu đặc trưng của vẩy nến da đầu là hiện tượng vẩy đóng trên da đầu thành từng mảng lớn và bong ra như gàu, có nhiều sưng đỏ thành từng vùng ranh giới rõ ràng, dễ nhận thấy dọc theo mép tóc, trên trán hoặc sau tai. Vẩy nến da đầu khiến người bệnh cảm thấy ngứa ngáy, khó chịu, xấu hổ, ngượng ngùng, ngại giao tiếp, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống. Chuyên gia y tế khuyến cáo, khi xuất hiện những triệu chứng của vẩy nến, bệnh nhân cần tới bác sĩ để được khám và có phương pháp điều trị thích hợp.

Về điều trị, bác sĩ sẽ chỉ định cho bệnh nhân dùng các thuốc ức chế miễn dịch toàn thân như methotrexat, cyclosporine; ngoài ra, có thể dùng một số thuốc chống viêm, giảm đau, thuốc bôi ngoài da có tác dụng bong vẩy, làm mềm da như acid salicylic, vitamin D3… Với bệnh nhân bị vẩy nến da đầu, có thể dùng các loại dầu gội đặc trị vẩy nến như polytar liquid, tránh dùng các loại dầu gội có tính kiềm mạnh dễ gây kích thích, làm bệnh càng trầm trọng thêm. Tuy nhiên, các thuốc này chỉ điều trị được triệu chứng, dễ gây tái phát. Việc sử dụng những thuốc này cần thận trọng vì có thể gây nhiều tác dụng phụ như loét dạ dày, ảnh hưởng đến chức năng gan, thận.

Bệnh nhân vẩy nến da đầu cần thực hiện chế độ ăn uống sinh hoạt hợp lý, dùng các loại dầu gội ít gây kích ứng da, nên gội đầu bằng nước bồ kết. Để vẩy nến không trầm trọng thêm, người bệnh cần sinh hoạt điều độ, hạn chế đồ uống kích thích như rượu, cà phê, cai thuốc lá, hạn chế các loại thực phẩm cay, nóng, các đồ rán, nướng, hạn chế mỡ động vật, tránh căng thẳng thần kinh. Đồng thời, người bệnh cần xác định tư tưởng “chung sống hòa bình” với bệnh, chính tâm lý thoải mái sẽ góp phần đẩy lùi bệnh tật.

TRỊ VẨY NẾN NHỜ TRÀ XANH

Các nhà khoa học trường đại học Georgia đã phát hiện ra rằng trà xanh có thể chữa những bệnh về da như gàu, vảy nến hay bệnh lupus.


Tinh chất trà xanh hòa với nước sẽ giúp làm chậm sự phát triển các triệu chứng của bệnh vẩy nến .
Trà xanh trị vẩy nến
Trà xanh cũng làm chậm sự sản xuất các tế bào da bằng cách điều chỉnh lại hoạt động của enzyme caspase 14, caspase 14 có liên quan đến quá trình tái tạo da.

Đối với vẩy nến và một số bệnh về da khác, tế bào da thường sinh sôi nảy nở một cách không kiểm soát được, làm cho da dày hơn, xù xì và giống như vảy cá.

Vì vậy, các nhà khoa học khuyên rằng việc tắm bằng nước trà xanh có thể giúp chữa được những bệnh về da, rất an toàn và không tốn kém.

1.Trà xanh chứa ít caffeine

Mặc dù trà xanh có chứa caffeine, nó vẫn chứa ít hơn nhiều hơn so với cà phê và trà đen. Điều này có nghĩa là nó sẽ không gây ra tác dụng tương tự như cà phê và trà đen như: buồn nôn, mất ngủ hoặc đi tiểu thường xuyên.

2.Điều trị hệ thống miễn dịch và giảm cân

Khi hệ thống miễn dịch không hoạt động bình thường, bạn sẽ cần đến sự hỗ trợ của trà xanh. Trong việc giảm cân, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng uống trà xanh sẽ giúp kiềm chế sự thèm ăn tốt hơn nhiều so với các loại thuốc. Nó cũng giúp nâng cao tỷ lệ trao đổi chất của cơ thể và điều này sẽ giúp cơ thể đốt cháy chất béo với một tốc độ nhanh hơn rất nhiều.

3.Trà xanh ức chế sự phát triển của các tế bào ung thư

Nghiên cứu về trà xanh cũng đã chỉ ra rằng nó ức chế sự phát triển của các tế bào ung thư, đó là lý do tại sao trà xanh được coi như là một biện pháp phòng ngừa chống lại các loại ung thư khác nhau, đặc biệt là ung thư thực quản.


4.Trà xanh có thể được sử dụng như là một sự trợ giúp cho sắc đẹp

Trà xanh còn được coi là "viện trợ" cho sắc đẹp của chị em bằng cách đơn giản là lấy nước trà xanh rửa mặt hoặc bã trà xanh đắp lên mắt để xóa đi những nét mệt mỏi trên da và quanh vùng mắt. Trà xanh cũng đã chứng minh là một biện pháp khắc phục hiệu quả đối với làn da bị cháy nắng và là một chất sát khuẩn cho các vết xước nhỏ rất tốt, có thể giảm nhiễm trùng.

Trà xanh còn là một nguồn tự nhiên của chất chống oxy hóa và có ý nghĩa tích cực đối với hầu hết các bộ phận của cơ thể.

TRÀ XANH HỖ TRỢ ĐIỀU TRỊ VẨY NẾN

Các nhà khoa học trường đại học Georgia đã phát hiện ra rằng trà xanh có thể chữa những bệnh về da như gàu, vảy nến hay bệnh lupus.


Tinh chất trà xanh hòa với nước sẽ giúp làm chậm sự phát triển các triệu chứng của bệnh vẩy nến .
Trà xanh trị vẩy nến
Trà xanh cũng làm chậm sự sản xuất các tế bào da bằng cách điều chỉnh lại hoạt động của enzyme caspase 14, caspase 14 có liên quan đến quá trình tái tạo da.

Đối với vẩy nến và một số bệnh về da khác, tế bào da thường sinh sôi nảy nở một cách không kiểm soát được, làm cho da dày hơn, xù xì và giống như vảy cá.

Vì vậy, các nhà khoa học khuyên rằng việc tắm bằng nước trà xanh có thể giúp chữa được những bệnh về da, rất an toàn và không tốn kém.

1.Trà xanh chứa ít caffeine
Mặc dù trà xanh có chứa caffeine, nó vẫn chứa ít hơn nhiều hơn so với cà phê và trà đen. Điều này có nghĩa là nó sẽ không gây ra tác dụng tương tự như cà phê và trà đen như: buồn nôn, mất ngủ hoặc đi tiểu thường xuyên.

2.Điều trị hệ thống miễn dịch và giảm cân
Khi hệ thống miễn dịch không hoạt động bình thường, bạn sẽ cần đến sự hỗ trợ của trà xanh. Trong việc giảm cân, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng uống trà xanh sẽ giúp kiềm chế sự thèm ăn tốt hơn nhiều so với các loại thuốc. Nó cũng giúp nâng cao tỷ lệ trao đổi chất của cơ thể và điều này sẽ giúp cơ thể đốt cháy chất béo với một tốc độ nhanh hơn rất nhiều.

3.Trà xanh ức chế sự phát triển của các tế bào ung thư
Nghiên cứu về trà xanh cũng đã chỉ ra rằng nó ức chế sự phát triển của các tế bào ung thư, đó là lý do tại sao trà xanh được coi như là một biện pháp phòng ngừa chống lại các loại ung thư khác nhau, đặc biệt là ung thư thực quản.

4.Trà xanh có thể được sử dụng như là một sự trợ giúp cho sắc đẹp
Trà xanh còn được coi là "viện trợ" cho sắc đẹp của chị em bằng cách đơn giản là lấy nước trà xanh rửa mặt hoặc bã trà xanh đắp lên mắt để xóa đi những nét mệt mỏi trên da và quanh vùng mắt. Trà xanh cũng đã chứng minh là một biện pháp khắc phục hiệu quả đối với làn da bị cháy nắng và là một chất sát khuẩn cho các vết xước nhỏ rất tốt, có thể giảm nhiễm trùng.

Trà xanh còn là một nguồn tự nhiên của chất chống oxy hóa và có ý nghĩa tích cực đối với hầu hết các bộ phận của cơ thể.

CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN TỚI VẨY NẾN

Do nguyên nhân sinh bệnh phức tạp, vẩy nến là một trong những bệnh về da khó chữa hết hẳn. Điều này gây chán nản trong tâm lý người bệnh và làm họ căng thẳng thêm mà càng căng thẳng, càng âu lo, buồn bực thì bệnh càng nặng. Điều này tạo thành một vòng lẩn quẩn ngày càng làm bệnh thêm nặng.


Tuy không điều trị hết hẳn nhưng việc trị liệu sẽ giúp cải thiện chất lượng cuộc sống, giúp thuyên giảm các biểu hiện ngoài da, giảm nguy cơ dẫn đến các biến chứng nặng nề, khó chữa như tổn thương khớp, vẩy nến mủ hoặc bệnh cảnh đỏ da toàn thân. Không những thế, trị liệu đúng cách còn giúp bệnh nhân giới hạn được các tác dụng phụ do thuốc gây ra. Việc phòng bệnh thường chỉ nhằm ngăn chặn sự trầm trọng của bệnh hơn là ngăn bệnh không xảy đến với mình. Vì vậy việc tìm hiểu cách sống chung với bệnh là một việc cần thiết giúp người bệnh có được một cuộc sống thoải mái.
Vẩy nến móng tay
Những việc bệnh nhân nên làm:

- Hiểu được tinh thần sống chung với bệnh một cách lạc quan

- Biết cách chế ngự căng thẳng, vui chơi giải trí lành mạnh

- Giữ sức khỏe tốt, rèn luyện thể lực

- Ăn uống đầy đủ dưỡng chất, ăn nhiều đạm (vì người có bệnh thường bị mất đạm qua lượng vảy tróc ra hằng ngày), ít béo, ngọt (đã có các nghiên cứu cho thấy có sự liên quan bệnh vẩy nến với rối loạn chuyển hóa lipid)

- Điều trị bệnh vẩy nến ngay từ khi thương tổn da còn ít theo hướng dẫn của thầy thuốc chuyên khoa

- Phòng ngừa và trị liệu sớm các nhiễm trùng đường hô hấp, răng miệng

- Thoa kem giữ ẩm cho da khi bệnh đã thuyên giảm

- Tham khảo ý kiến bác sĩ nếu bạn phải trị đồng thời nhiều bệnh với nhiều thuốc uống cùng lúc. Một số thuốc uống có thể làm nặng thêm bệnh vẩy nến như thuốc kháng sốt rét hoặc gây tương tác hóa học với nhau.

Những việc bệnh nhân không nên làm:

- Cào gãi, chà xát thương tổn vì ở bệnh vẩy nến có hiện tượng KOEBNER. Đây là hiện tượng nổi thêm sang thương mới sau khi có kích thích cơ học

- Tự điều trị theo mách bảo hoặc dùng đi dùng lại đơn thuốc đã đỡ bệnh trước đây mà không qua ý kiến của bác sĩ chuyên khoa.

- Tắm nước quá nóng, điều này có thể làm nặng thêm tình trạng khô da tróc vẩy

- Uống rượu

Tóm lại, bệnh vẩy nến là một bệnh da mạn tính. Người bệnh cần tuân thủ và hợp tác với thầy thuốc để việc trị liệu đạt hiệu quả. Ngoài ra, một lối sống lành mạnh với tinh thần lạc quan yêu đời kết hợp chế độ dinh dưỡng hợp lí, biết cách chế ngự căng thẳng là những việc khả thi giúp bệnh nhân có cuộc sống tốt đẹp dù cho một phần cuộc sống của họ luôn phải đồng hành với bệnh vẩy nến.

CHẾ ĐỘ ĂN CHO NGƯỜI VẨY NẾN

Chế độ dinh dưỡng cho người bị vảy nến

Có nhiều phương pháp điều trị bệnh vảy nến, nhưng hình thức thường được áp dụng vẫn là các loại thuốc có chứa corticosteroid. dù vậy hiệu quả vẫn chưa được như mong muốn vì hai trở ngại cơ bản:


Vẩy nến da đầu
- Bệnh không dứt hẳn sau khi ngưng thuốc.

- Thuốc có nhiều phản ứng phụ tai hại không thua căn bệnh.

Hiện nay có khuynh hướng trở về với dinh dưỡng liệu pháp nhằm vận dụng hoạt chất dễ dung nạp trong thực phẩm để thay thế các chất dễ gây hại trong dược phẩm.

Thực phẩm ưu tiên:

Cá biển: loại có nhiều 3-Omega như cá hồi, cá thu, cá saba… Nghiên cứu cho thấy nếu dùng 150g mỗi ngày trong nhiều ngày liên tục có thể giảm lượng thuốc corticosteroid đến phân nửa mà không mất hiệu năng của thuốc nhờ 3-Omega có tác dụng ức chế các chất sinh viêm trong bệnh vảy nến như leucotriene 3 và 5.

Rau quả: có nhiều beta-carotin như trái bơ, cà rốt và đặc biệt là xoài để bảo vệ cấu trúc mong manh của da.

Mè đen: vừa chứa dầu béo có cấu trúc tương tự 3-Omega, vừa cung cấp sinh tố E cần thiết cho lớp sợi liên kết (collagen) dưới da.

Bông cải xanh: để bổ sung acid folic là tác nhân sinh học giữ vai trò quan trọng trong tiến trình tổng hợp kháng thể. Chất này lại rất dễ thiếu trong bệnh vảy nến.

Nghêu sò: nhằm cung ứng kẽm, khoáng tố tối cần thiết không chỉ cho da mà cho sức đề kháng. Người bị vảy nến không nên có định kiến phải tránh hải sản vì sợ đó là các món ăn vào thêm ngứa. Quan điểm đó chỉ đúng nếu người bệnh dị ứng với hải sản nào đó.

Và hạn chế:

Thịt, sữa, trứng: vì chứa nhiều arachidon là chất xúc tác cho phản ứng viêm tấy không chỉ ngoài da, mà trong khớp, trên thần kinh ngoại biên…

Rượu bia: vì độ cồn là đòn bẩy cho phản ứng thoái biến các loại chất đạm có tác dụng sinh dị ứng. Hơn nữa, tiến trình giải độc rượu của gan bị trì trệ rất nhiều ở người có cơ địa vảy nến.

Kết luận

Vẩy nến là bệnh hơi khó trị, cần kiên nhẫn. Bác sĩ lo chọn lựa thuốc, bệnh nhân cũng cần hợp tác với bác sĩ và tự chăm sóc bệnh của mình.

-Tắm mỗi ngày để loại bỏ vẩy bám trên da. Tránh nước quá nóng, xà bông quá mạnh làm da thêm khô ngứa. Lau da nhẹ nhàng tránh gây tổn thương thêm.

-Pha dầu tắm như Epson, Dead Sea salt, dầu thực vật trong bồn nước, ngâm mình khoảng 15 phút cho da mềm.

-Ngay sau khi tắm, da còn hơi nước, thoa các loại kem làm ẩm da. Mùa lạnh khô, cần thoa kem làm ẩm da nhiều lần trong ngày.

-Nhớ thoa và dùng thuốc trị bệnh do bác sĩ chỉ định

-Giữ hẹn tái khám để bác sĩ theo dõi tiến triển bệnh, thay đổi trị liệu.

-Phơi nắng nhẹ cũng giúp phần nào nhưng đừng để da cháy nắng

-Tránh gãi chỗ ngứa. Giữ da ấm.

-Tìm hiểu thêm về bệnh để biết cách chăm sóc, tránh tái phát hoặc trầm trọng hơn.

Đôi khi người bệnh cũng nên có thái độ hòa hoãn, sống chung hòa bình với Vẩy Nến, một bệnh tương đối lành tính, tuy khó chữa, nhưng không gây hậu quả hiểm nghèo như nhiều bệnh khác.

ĐỐI PHÓ VÀ HỖ TRỢ

Rất nhiều liệu pháp thay thế có sẵn để điều trị bệnh vẩy nến, bao gồm cả chế độ ăn đặc biệt, kem, bổ sung chế độ ăn uống và các loại thảo mộc. Một số người yêu cải thiện từ các phương pháp điều trị là hữu ích trong điều trị bệnh vẩy nến, nhưng hầu hết chưa được chứng minh có hiệu quả.


Một số liệu pháp thay thế được coi là an toàn nói chung, và có thể hữu ích trong việc làm giảm các dấu hiệu và triệu chứng như ngứa và nhân rộng.
Vẩy nến ở chân
Aloe vera. Từ lá của cây lô hội, lô hội chiết xuất kem có thể làm giảm đỏ, mở rộng quy mô, ngứa và viêm nhiễm. Có thể cần phải sử dụng kem nhiều lần trong ngày trong một tháng hoặc nhiều hơn để nhìn thấy bất kỳ cải thiện làn da.

Kem Capsaicin. Ứng dụng cho các khu vực bị ảnh hưởng nhiều lần một ngày, kem capsaicin - chiết xuất từ ớt - có thể dễ dàng giảm ngứa và giảm độ nặng của bệnh vẩy nến. Có thể trải nghiệm một cảm giác nóng với các ứng dụng đầu tiên. Hãy chắc chắn để rửa tay sau đó, do đó không vô tình chà kem tới đôi mắt.

Dầu cá. Omega-3 acid béo được tìm thấy trong chất bổ sung dầu cá có thể làm giảm viêm kết hợp với bệnh vẩy nến, mặc dù kết quả từ các nghiên cứu được trộn lẫn. 3 gram hoặc ít hơn của dầu cá hàng ngày nói chung được công nhận là an toàn và có thể tìm thấy nó có lợi.

Nếu đang xem xét bổ sung chế độ ăn uống hoặc liệu pháp thay thế khác để điều trị bệnh vẩy nến, tham khảo ý kiến bác sĩ. Người đó có thể giúp cân nhắc những ưu và khuyết điểm của phương pháp điều trị cụ thể thay thế.

Đối phó và hỗ trợ

Đối phó với bệnh vẩy nến có thể là một thách thức, đặc biệt là nếu bệnh bao gồm các khu vực rộng lớn của cơ thể hoặc ở những nơi dễ nhìn thấy bởi người khác, chẳng hạn như mặt, bàn tay. Đang diễn ra liên tục tính chất của bệnh và điều trị những thách thức chỉ thêm vào gánh nặng.

Dưới đây là một số cách để giúp đối phó và cảm thấy nhiều hơn trong kiểm soát:

Nhận đào tạo. Tìm hiểu càng nhiều càng tốt về bệnh và nghiên cứu lựa chọn điều trị. Hiểu những gì có thể gây nên bệnh, do đó có thể ngăn ngừa bùng phát tốt hơn. Giáo dục những người xung quanh - bao gồm gia đình và bạn bè - để họ có thể nhận biết, xác nhận và hỗ trợ nỗ lực trong việc đối phó với căn bệnh này.

Thực hiện theo khuyến cáo của bác sĩ. Nếu bác sĩ đề nghị một số phương pháp điều trị và thay đổi lối sống, hãy đi theo họ. Hãy hỏi nếu có bất cứ điều gì không rõ ràng.

Tìm một nhóm hỗ trợ. Xem xét việc tham gia một nhóm hỗ trợ với các thành viên khác, những người có bệnh và biết những gì đang trải qua. Có thể tìm thấy sự thoải mái trong việc chia sẻ kinh nghiệm và cuộc đấu tranh, gặp gỡ mọi người phải đối mặt với những thách thức tương tự. Hãy hỏi bác sĩ để biết thông tin về các nhóm hỗ trợ bệnh vẩy nến tại khu vực hoặc trực tuyến.

Sử dụng che đậy khi cảm thấy cần thiết. Những ngày khi cảm thấy đặc biệt tự ý thức, bao gồm bệnh vẩy nến với quần áo hoặc sử dụng mỹ phẩm che đậy, chẳng hạn như trang điểm cơ thể hoặc kem che khuyết điểm. Những sản phẩm này có thể che những mảng đỏ và bệnh vẩy nến. Nó có thể gây kích ứng da, tuy nhiên, và không nên sử dụng trên vùng lở loét, vết cắt hoặc vết thương.

DÙNG THUỐC UỐNG HOẶC THUỐC TIÊM TRỊ VẨY NẾN

Nếu có bệnh vẩy nến nặng hay đó là khả năng kháng các loại điều trị, bác sĩ có thể kê toa thuốc uống hoặc tiêm. Bởi vì các tác dụng phụ nghiêm trọng, một số trong những thuốc được sử dụng trong thời gian chỉ ngắn gọn về thời gian và có thể được xen kẽ với các hình thức điều trị khác.
Retinoids. Liên quan đến vitamin A, nhóm thuốc này có thể làm giảm việc sản xuất các tế bào da nếu có bệnh vẩy nến nặng mà không đáp ứng với liệu pháp khác. Các dấu hiệu và triệu chứng thường trở lại khi ngưng điều trị, tuy nhiên. Các tác dụng phụ có thể bao gồm khô da và niêm mạc, ngứa và rụng tóc. Và bởi vì retinoids như acitretin (Soriatane) có thể gây dị tật bẩm sinh nặng, phụ nữ phải tránh thai trong vòng ít nhất ba năm sau khi uống thuốc.
Vẩy nến ở tay
Methotrexate. Loại uống, methotrexate giúp bệnh vẩy nến bằng cách giảm sản xuất của các tế bào da và viêm. Nó cũng có thể làm chậm sự tiến triển của bệnh viêm khớp vẩy nến ở một số người. Methotrexate thường được dung nạp tốt với liều lượng thấp, nhưng có thể gây ra đau bụng, chán ăn và mệt mỏi. Khi được sử dụng trong thời gian dài nó có thể gây ra một số tác dụng phụ nghiêm trọng, bao gồm tổn thương gan nặng và giảm sản xuất của các tế bào máu trắng, hồng cầu và tiểu cầu.

Cyclosporine. Cyclosporine ngăn chặn hệ miễn dịch và hiệu quả cũng tương tự như methotrexate. Giống như các thuốc ức chế miễn dịch khác, cyclosporine làm tăng nguy cơ nhiễm trùng và các vấn đề sức khỏe khác, bao gồm cả ung thư. Cyclosporine cũng làm cho dễ bị bệnh về thận và huyết áp cao - tăng nguy cơ với liều lượng cao hơn và điều trị dài hạn.

Hydroxyurea. Thuốc này không có hiệu quả như cyclosporin hoặc methotrexate, nhưng không giống như các loại thuốc mạnh hơn nó có thể được kết hợp với đèn chiếu. Tác dụng phụ có thể bao gồm thiếu máu, giảm tế bào bạch cầu và tiểu cầu. Nó không nên dùng cho phụ nữ có thai hoặc dự định có thai.

Immunomodulator (Biologics). Thuốc immunomodulator, một số được phê duyệt để điều trị bệnh vẩy nến trung bình đến nặng. Chúng bao gồm alefacept (Amevive), etanercept (Enbrel), infliximab (Remicade) và ustekinumab (Stelara). Các thuốc này được cho bởi truyền tĩnh mạch, tiêm bắp hoặc tiêm dưới da và thường được sử dụng cho những người đã không đáp ứng với liệu pháp truyền thống hoặc người có liên quan đến viêm khớp vẩy nến. Biologics làm việc bằng cách chặn các tương tác giữa hệ thống tế bào miễn dịch nhất định. Mặc dù nó có nguồn gốc từ các nguồn tự nhiên hơn là những hóa chất, chúng phải được dùng thận trọng vì chúng có tác động mạnh đến hệ thống miễn dịch và có thể gây nhiễm trùng đe dọa cuộc sống.

Điều trị xem xét

Mặc dù các bác sĩ chọn phương pháp điều trị dựa vào loại và mức độ nghiêm trọng của bệnh vẩy nến và các vùng da bị ảnh hưởng, các phương pháp truyền thống bắt đầu với các phương pháp điều trị ôn hòa nhất - các loại kem và liệu pháp ánh sáng cực tím (đèn chiếu) - sau đó tiến đến mạnh mẽ hơn nếu cần thiết. Mục đích là để tìm cách hiệu quả nhất để làm chậm phát triển bệnh với các tác dụng phụ ít nhất có thể.

Mặc dù một loạt các tùy chọn, có hiệu quả điều trị bệnh vẩy nến có thể được thử thách. Căn bệnh này là không thể đoán trước, đi qua các chu kỳ của cải tiến và làm xấu có vẻ ngẫu nhiên. Ảnh hưởng của phương pháp điều trị bệnh vẩy nến cũng có thể được đoán trước, những gì làm việc tốt cho một người có thể không hiệu quả cho người khác. Làn da cũng có thể trở nên kháng với phương pháp điều trị khác nhau theo thời gian, và phương pháp điều trị bệnh vẩy nến mạnh nhất có thể có tác dụng phụ nghiêm trọng.

Nói chuyện với bác sĩ về các tùy chọn, đặc biệt là nếu không cải thiện sau khi sử dụng điều trị đặc biệt hoặc nếu đang gặp tác dụng phụ khó chịu. Có thể điều chỉnh kế hoạch điều trị hoặc thay đổi cách tiếp cận để đảm bảo kiểm soát tốt nhất có thể các triệu chứng.

BỆNH VẨY NẾN VÀ VẤN ĐỀ MANG THAI

Nói chung, bệnh vẩy nến không ảnh hưởng đến hệ thống sinh sản nam hay nữ. Tuy nhiên, phương pháp điều trị bệnh vẩy nếnyêu cầu các biện pháp phòng ngừa đặc biệt trước và trong khi mang thai. Điều quan trọng là để tham khảo ý kiến ​​với bác sĩ để lựa chọn phương pháp điều trị bệnh vẩy nến của bạn là an toàn cho việc mang thai và cho con bú.

Vẩy nến không ảnh hưởng đến hệ thống sinh sản 

Bệnh vẩy nến thay đổi trong thời kỳ mang thai?
Một số phụ nữ thấy sự cải thiện trong mức độ nghiêm trọng của bệnh vẩy nến của họ trong thời kỳ mang thai, trong khi những người khác lại cảm thấy bệnh vẩy nến của họ trở nên tệ hơn. Thay đổi mức độ nghiêm trọng của bệnh vẩy nến khác nhau đối với từng cá nhân đáp ứng khác nhau

Khía cạnh di truyền của bệnh vẩy nến
Bệnh vẩy nến được cho là một bệnh di truyền, nhưng nó không theo một khuôn mẫu điển hình chi phối. Không ai có thể dự đoán đứa trẻ sinh ra có bị vẩy nến hay không? Hiện tại vẫn chưa tìm ra căn cứ di truyền của bệnh vẩy nến. Nếu bố hoặc mẹ bị vẩy nến thì đứa trẻ sinh ra có nguy cơ 10% bị mắc bệnh vẩy nến. Nếu cả cha và mẹ bị vẩy nến thì nguy cơ đứa trẻ bị vẩy nến tăng lên tới 50%.

Các nghiên cứu của các cặp song sinh giống hệt nhau với bệnh vẩy nến cho thấy rằng bệnh vẩy nến có một phần di truyền. Nhưng những nghiên cứu tương tự cũng khẳng định sự phức tạp của bệnh vẩy nến. Ngoài ra, yếu tố môi trường cũng đóng vai trò quan trọng trong việc phát sinh vẩy nến. Lý thuyết cho rằng bệnh vẩy nến được kích hoạt bởi một sự kết hợp của các gen và các lực lượng bên ngoài được gọi là "đa yếu tố thừa kế." Một khi các gen chịu trách nhiệm cho bệnh vẩy nến được phát hiện, các mô hình thừa kế có thể được hiểu rõ hơn.

Nếu bạn muốn có thai, hãy nói với bác sỹ của bạn để họ có thể sử dụng thuốc và kiểm soát bệnh của bạn tốt hơn cả trước khi mang thai, sau khi mang thai và trong lúc cho con bú.

Một nghiên cứu gần đây được công bố trên Tạp chí của Học viện Da liễu Mỹ cho thấy rằng phụ nữ bị bệnh vẩy nến nặng có thể sinh một em bé nhẹ cân hơn so với những phụ nữ không có bệnh vẩy nến. Tuy nhiên, phụ nữ với bệnh vẩy nến nhẹ thì ít ảnh hưởng đến thai nhi

BỆNH VẨY NẾN PHẤN HỒNG

Chẩn đoán bệnh vảy nến phấn hồng: Dựa vào vị trí 1/2 người phía trên, tổn thương có tính chất đám mẹ, đám con, đám mẹ hình tròn vài cm đường kính, màu đỏ hồng có viền vảy ở xung quanh, ở giữa hơi nhăn màu nhạt hơn. các đám con 1cm đường kính dạng sẩn mày đay, ban đỏ, hơi có vảy. 


Vẩy phấn hồng thường được các bác sĩ chuyên khoa Da Liễu chẩn đoán xác định nhanh chóng dựa vào các triệu chứng lâm sàng. Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu lúc bệnh mới khởi phát, vẩy phấn hồng cần được chẩn đoán phân biệt với một số bệnh ngoài da khác như: lang ben, nấm da, chàm, vẩy nến, giang mai II. Một số trường hợp phải cần đến các phương pháp cận lâm sàng như xét nghiệm huyết học, sinh thiết sang thương da... để xác định chẩn đoán bệnh vảy nến phấn hồng.
Vẩy nến phấn hồng
Cần chẩn đoán phân biệt với:

-Nấm da

- Viêm da da dầu: viêm da da dầu tổn thương thường có đỏ da, vảy mỡ ở vùng mặt, ngực, lưng..

- Giang mai 2: tổn thương là đào ban, sẩn giang mai, mảng niêm mạc không ngứa, không đau, xét nghiệm huyết thanh giang mai (+).

- ban mày đay.

- Vảy nến thể chấm giọt

- Viêm da liên cầu

Điều trị bệnh vảy nến phấn hồng:
Trong đa số các trường hợp, vẩy phấn hồng sẽ tự khỏi bệnh sau 4-8 tuần không cần phải dùng thuốc. Việc điều trị chủ yếu là kiểm soát triệu chứng ngứa. Các thuốc kháng virus(acyclovir, famciclovir) hay kháng sinh (erythromycin) có thể rút ngắn thời gian kéo dài của vẩy phấn hồng xuống 1-2 tuần. Nếu bệnh nhân ngứa nhiều, bác sĩ điều trị có thể dùng thêm:

Kem, pommade có Steroid : Elomet, Flucinar, Diprosone, Dermovate, Lorinden…giúp giảm ngứa và sang thương bớt đỏ.

Xà phòng có hắc ín, salicylic acid làm bong vẩy: Polytar bar, SASTID bar.

Thuốc kháng histamines : Cetirizine (Zyrtec) ,Fexofenadine (Allegra, Telfast) Diphenhydramine (Benadryl), Chlorpheniramine (Chlor-Trimeton), Clemastine (Tavist) , Loratadine (Claritin).

Quang trị liệu: Chiếu tia cực tím UVB vào sang thương da.
Để giảm cảm giác khó chịu, bệnh nhân đươc khuyên nên tắm nước ấm với dung dịch Calamine và tránh các hoạt động thể lực gây mồ hôi nhiều, nghỉ ngơi trong điều kiện nhiệt độ mát và thông khí tốt.

Điều trị triệu chứng là chính. Điều trị mạnh tại chỗ là không cần thiết. Tránh kích thích bởi tắm nóng, xà phòng và quần áo len. Để chống da khô, tránh kích thích có thể dùng cream corticoid.

Chiếu tia cực tím liều dưới đỏ da. Những cas nặng tốt nhất là chiếu UVA được coi là hiệu quả nhất.
Bôi dung dịch Rivanol 1 %o có thể cho kết quả tốt. Có tác giả còn cho uống cả Rivanol.

Uống kháng histamin tổng hợp, nếu cần cho uống một đợt corticoid. Bệnh có thể tự lành không cần điều trị. Nếu ngứa nhiều thì dùng thuốc kháng Histamin, an thần.

Nếu xác định có nguyên nhân gây bệnh bệnh vảy nến phấn hồng thì điều trị theo nguyên nhân.


Biến chứng bệnh vảy nến phấn hồng.
- Vẩy phấn hồng có thể gây ngứa nhiều, đặc biệt khi thân nhiệt bệnh nhân quá nóng.

- Các hồng ban có thể khỏi hoàn toàn không để lại dấu vết. Tuy nhiên nếu da bệnh nhân sâm màu, tại các vị trí của sang thương mất đi có thể còn lưu lại các đốm nâu.

BỆNH VẨY NẾN HAY VẨY CÁ

Bệnh vẩy cá gồm một nhóm các bệnh có đặc trưng là vẩy da khô ráp giống như vẩy cá, lan tỏa, không viêm, tồn tại lâu. Tuy các thể bệnh vẩy cá ít ảnh hưởng đến sức khỏe người bệnh nhưng lại gây ra nhiều phiền toái về thẩm mỹ. Hiểu biết các thể bệnh sẽ giúp chúng ta chăm sóc người bệnh tốt hơn.


Vẩy cá thể thông thường
Vẩy cá bẩm sinh thể thông thường thường gặp nhất, đây là bệnh di truyền gen trội, hiếm khi biểu hiện nặng, tỷ lệ mắc khoảng 1/250. Khoảng 37 - 50% trường hợp mắc đồng thời với viêm da cơ địa hay các bệnh dị ứng khác như viêm mũi dị ứng, hen...
l
Bạn lo lắng không biết mình bị bệnh gì?

Bệnh vẩy cá thể thông thường.
Dấu hiệu lâm sàng gồm: Da khô, bong vẩy khi sơ sinh, hoặc khoảng 2 tháng sau sinh hay muộn hơn. Vẩy da có màu trắng xám, nhỏ mịn, mảnh nhỏ cuộn tròn bám nửa vào da. Da toàn thân có thể bong vẩy bất thường nhưng chủ yếu ở mặt duỗi, nhất là ở cẳng chân. Tổn thương ở thành bụng nhưng vùng bẹn bình thường. Trên mặt, tổn thương có ở trán, quanh miệng, có thể có gàu nhẹ ở da đầu. Ở bàn tay, bàn chân, các vân tay trở nên rõ do bị dày sừng nhẹ. Không tổn thương lông, tóc, móng và răng, niêm mạc, mắt. Bệnh nhẹ dần khi tuổi càng cao. Bệnh nhân có cảm giác da khô, ráp và thiếu tự tin vì vấn đề thẩm mỹ. Nếu chỉ bị vẩy cá đơn thuần thì không bị ngứa nhưng nếu phối hợp với viêm da cơ địa thì thường kèm theo ngứa, gãi có thể gây dày da liken hóa và các vết xước. Bệnh thường bớt khi đến tuổi dậy thì, tuy nhiên cũng có một số bệnh nhân lại bị nặng lên.

Điều trị: Bệnh nhân cần được ở trong môi trường ấm, có độ ẩm vừa phải. Điều trị bằng cách bôi các kem dịu da, mềm da. Nếu bệnh nặng phải bôi các chế phẩm có parafin. Những người do bận làm việc không bôi kem đều đặn được thì có thể dùng sữa tắm có kem. Nếu dùng mỡ salicylic 3 - 5% thì có tác dụng làm bong vẩy, nhưng dễ gây kích ứng và nhiễm độc nếu bôi diện rộng. Các loại acid hoa quả như lactat, glycolic, malic, citric, pyruvic... 5 - 10% chế phẩm dạng dầu hoặc kem, lotion có tác dụng làm dịu da, mịn da. Đối với bệnh nhân bị cả hai bệnh vẩy cá và viêm da cơ địa, cần phải sử dụng kem có corticosteroid.

Vẩy cá do nhiễm sắc thể X 
Đây là thể bệnh di truyền gen lặn của nam giới sinh ra từ bà mẹ mang gen bệnh nhưng không có triệu chứng, bệnh xuất hiện sớm sau sinh. Triệu chứng đặc trưng là vẩy da nhiều, màu nâu bẩn ở gáy, chi, thân mình và mông. Thể này chỉ gặp ở nam với tỷ lệ mắc phải 1/2.000 - 6.000. Gen bệnh là Xp22.32 ở nhiễm sắc thể X. Nếu nữ mang gen này thường không biểu hiện bệnh. Bệnh sinh do thiếu hụt men Steroid sulfatase. Triệu chứng thường xuất hiện sớm ngay sau khi sinh hoặc tháng đầu tiên với tỷ lệ khoảng 75%. Biểu hiện vẩy da to, dính, màu nâu sẫm bẩn, hình đa giác. Tổn thương hay thấy ở mặt gấp, như vậy là trái ngược với vẩy cá thể thông thường, và mặt duỗi như sau cổ, quanh tai, vùng mặt - cằm, mặt duỗi cánh tay, nếp gấp khuỷu tay, khoeo chân. Tổn thương ít có ở vùng bụng, ngực, nhưng rõ hơn ở các vùng mặt duỗi tay, mặt ngoài đùi và cẳng chân. Tổn thương có thể ở da đầu, nách, mu tay, mu chân, nhưng bàn tay, bàn chân và mặt không bị tổn thương. Đục giác mạc ở khoảng 50% trường hợp. Đặc biệt triệu chứng tinh hoàn ẩn gặp khoảng 20% trường hợp, tinh hoàn lạc chỗ, vô sinh... Bệnh không nhẹ khi bệnh nhân lớn lên và thường biểu hiện nặng hơn vào mùa khô hanh.

Điều trị: Dùng thuốc bôi như với vẩy cá thể thông thường. Uống thuốc retinoid có hiệu quả đối với một số trường hợp nhưng cần thận trọng với các tác dụng phụ của thuốc và phải do bác sĩ chỉ định và theo dõi chặt chẽ.

Vẩy cá bong vẩy lá
Đây là thể bệnh thường xuất hiện ngay sau khi sinh với triệu chứng đứa trẻ có bọc màng, sau đó màng sẽ mất đi nhanh và xuất hiện các vẩy da lớn, thô trên da toàn thân bao gồm cả mặt gấp của chi, bàn tay, bàn chân. Bệnh làm ảnh hưởng lớn về thẩm mỹ.

Biểu hiện: Khi sinh ra trẻ đã bị bệnh với biểu hiện có màng bọc toàn thân, màng bọc trong và bong đi trong vài tuần, đỏ da toàn thân, lộn mi và lộn môi, da mặt căng. Trẻ nhỏ và người lớn có vẩy da như giấy ở toàn thân, trông như hình ảnh lát đá hoa. Vẩy da to, dày, màu nâu bao phủ khắp cơ thể, nặng nhất ở chi dưới. Da ở quanh khớp dày sừng có khi sùi cao lên. Dày sừng ở bàn tay, bàn chân, lòng bàn tay, bàn chân nứt. Có thể xuất hiện đỏ da toàn thân. Tóc có thể bị rụng do nhiễm khuẩn. Tổn thương gây sẹo, thường có màu nâu do vẩy da. Niêm mạc không bị tổn thương. Trẻ có nguy cơ bị mất nước, tăng natri huyết, bội nhiễm và nhiễm khuẩn huyết. Bệnh tồn tại suốt đời và không tiến triển nhẹ đi khi lớn lên. Dày sừng làm tắc các tuyến bài tiết mồ hôi, làm cho bệnh nhân không tiết được mồ hôi...

Điều trị bằng cách bôi các thuốc làm dịu da, mềm da. Bôi thuốc bong vẩy da và alpha - hydroxy acid, uống retinoid như trong trường hợp trên.

CÀ PHÊ VÀ THUỐC LÁ CÓ LÀM GIA TĂNG BỆNH VẨY NẾN KHÔNG?

Mặc dù nhiều nghiên cứu trước đó đã liên kết cà phê với nguy cơ gia tăng bệnh vảy nến, song một nghiên cứu mới đây không tìm thấy bằng chứng như vậy, theo trang tin healthday.com.




Mẩn đỏ và kích ứng da
Bệnh vảy nến là một bệnh da phổ biến, là nguyên nhân gây mẩn đỏ và kích ứng da. “Giả thuyết của chúng tôi là liệu chất caffeine (có trong cà phê) có làm giảm nguy cơ mắc bệnh vảy nến hay không, vì có nhiều giả thuyết trước đây cho rằng caffeine có thể là một chất chống viêm.

Tuy nhiên, chúng tôi thấy không có mối liên hệ giữa cà phê và nguy cơ gây bệnh vảy nến”, tác giả nghiên cứu, tiến sĩ Abrar Qureshi, chuyên gia về da liễu thuộc Trường y Harvard (Mỹ) khẳng định. Theo chuyên gia Qureshi, sở dĩ nhiều nghiên cứu trước đây cho rằng có mối liên hệ giữa cà phê với bệnh vảy nến có thể là do có mối liên hệ giữa bệnh này với hút thuốc lá và uống nhiều rượu bia, vốn là những tác nhân gây bệnh vảy nến.

Trong cuộc nghiên cứu mới ở 83.000 người này, những người uống nhiều cà phê nhất cũng là những người hút thuốc lá và uống rượu bia nhiều, chuyên gia Qureshi lý giải thêm.

LÀM GÌ ĐỂ HẠN CHẾ BỆNH VẨY NẾN TÁI PHÁT


Khi bị bệnh vẩy nến ngoài việc phải điều trị bằng thuốc để làm giảm các triệu chứng thì cũng cần có một chế độ dinh dưỡng hợp lý cùng góp phần hạn chế vảy nến tái phát 


1.Một số loại thực phẩm bạn nên ưu tiên:

Ảnh minh họa

- Uống nhiều nước: nên uống gấp 2 - 3 lần bình thường.
- Nên ăn các thực phẩm nguyên hạt như: ngũ cốc nguyên hạt, gạo nâu (gạo lức), và lúa mỳ). Giảm ăn các loại như lúa mỳ trắng, gạo trắng và các sản phẩm thực phẩm đã qua tinh chế mất đi vitamin B. 
- Cá biển: loại có nhiều 3-Omega như cá hồi, cá thu, cá saba...
- Rau quả: các loại quả có nhiều beta-carotin như: trái bơ, cà rốt, xoài để bảo vệ cấu trúc mong manh của da. Ăn nhiều rau xanh. Ăn càng nhiều lá xanh càng tốt, đặc biệt là cải xoăn. Ăn các rau quả sạch, không chứa thuốc trừ sâu.
- Mè đen: vừa chứa dầu béo có cấu cần thiết không chỉ cho da mà cho sức đề kháng. 
- Bông cải xanh: để bổ sung acid folic là tác nhân sinh học giữ vai trò quan trọng trong tiến trình tổng hợp kháng thể. 

- Nghêu sò: nhằm cung ứng kẽm, khoáng tố tối tránh hải sản vì sợ đó là các món ăn vào thêm ngứa.

2. Tuy nhiên cũng có những thực phẩm cần nên hạn chế:

- Thịt: vì chứa nhiều arachidon là chất xúc tác cho phản ứng viêm tấy. 
- Sữa góp phần tạo chất nhờn và làm trầm trọng thêm một số bệnh tự miễn. 
- Rượu bia: vì độ cồn là đòn bẩy cho phản ứng thoái biến các loại chất đạm có tác dụng sinh dị ứng. Hơn nữa, tiến trình giải độc rượu của gan bị trì trệ rất nhiều ở người có cơ địa vảy nến.
- Đường: Giảm lượng đường trắng đã qua tinh chế cũng như frutose, đường từ ngô, mật ong và các chất làm ngọt khác. Hạn chế nước hoa quả ngọt và các loại hoa quả chứa nhiều đường.
- Tránh những thức ăn có men , các loại nước ngọt, trà đậm, cà phê thuốc lá, không ăn các chất cay nóng, mỡ heo, hạn chế ăn các loại chiên xào, các chất kích thích như ớt, tiêu...
- Tránh dùng những đồ nướng, rán: thịt, đậu, cá nướng rán vì có nhiều gốc tự do có thể làm tái phát bệnh vẩy nến.

3. Chế độ sinh hoạt

- Tắm mỗi ngày để loại bỏ vẩy bám trên da. Tránh nước quá nóng, xà bông quá mạnh làm da thêm khô ngứa. Lau da nhẹ nhàng tránh gây tổn thương thêm.
- Ngay sau khi tắm, da còn hơi nước, thoa các loại kem làm ẩm da. Mùa lạnh khô, cần thoa kem làm ẩm da nhiều lần trong ngày (Kem vaseline).
- Tránh gãi chỗ ngứa. Giữ da ấm. 
- Tránh làm tổn thương da, tránh kì cọ, côn trùng cắn, nhiễm vi khuẩn và vi rút, cháy nắng, stress, rượu và tăng cân.
- Tránh nhiễm khuẩn: Đặc biệt là nhiễm khuẩn tai mũi họng.
- Người bệnh nên giữ vệ sinh thân thể sạch sẽ, giữ tâm trạng thoải mái, không mặc cảm. Tránh tâm trạng bất an, bi quan quá lo buồn để tránh tái phát.

Ngoài ra bạn có thể sử dụng thêm sản phẩm Kim Miễn Khang là sản phẩm khá hiệu quả cho bệnh nhân vẩy nến cũng như bệnh nhân mắc các bệnh tự miễn khác do Kim miễn khang giúp tăng cường năng lượng tế bào giúp các tế bào nhận diện chính xác hơn đồng thời có tác dụng giảm viêm, giảm sưng do đó giảm các triệu chứng của vẩy nến và tránh tái phát

MỤC TIÊU ĐIỀU TRỊ BỆNH VẨY NẾN HIỆN NAY

Mục tiêu điều trị bệnh vẩy nến hiện nay chủ yếu dựa vào những điểm chính sau:


Ảnh minh họa

-Ngăn cản sự xâm nhập của các tế bào T hoạt hóa từ tế bào nội mô vào thượng bì và bì;

-Ngăn cản quá trình sản xuất cytokine Th1;

-Trực tiếp kháng lại các đáp ứng của cytokine Th1;

Vẩy nến hiện nay vẫn chưa thể chữa khỏi hoàn toàn mà chỉ làm giảm, sạch thương tổn và kéo dài thời gian tái phát. Có nhiều phương pháp điều trị và dựa vào tuổi, phái, dạng lâm sàng, vị trí sang thương cũng như sự lan tỏa của bệnh.
Điều trị tại chỗ thường được sử dụng trong vẩy nến mức độ nhẹ và trung bình. Vẩy nến mức độ trung bình và nặng có thể phải sử dụng quang trị liệu hoặc thuốc hệ thống.

Điều trị tại chỗ

Có rất nhiều thuốc được sử dụng tại chỗ trong điều trị vẩy nến. Gần đây, một số loại thuốc mới như tazaroten và tacrolimus cũng có hiệu quả trong điều trị vẩy nến.
Thuốc điều trị tại chỗ :Corticoisteroid: Dễ sử dụng, tác dụng nhanh .Calcipotriene: Dung nạp tốt. Anthralin. Acid salicylic. Tazarotene

Điều trị hệ thống cổ điển

Cyclosporin: Hiệu quả cao. Methotrexate. Acitretin. Fumaric acid ester. Hydroxyurea. Dapson

Một số tuốc mới trong điều trị vẩy nến: Alefacept .Efalizumab (anti-CD11a) .OKTcdrα (anti-CD4) .CTLA4-Ig .Infliximab (anti TNF-α) .Etanercept (anti TNF-α) Adalimumab (anti TNF-α) .IL-10 .Onercept (anti TNF-α) .AYURDERME và Kliquidclorophyl-A 
Trong đó: Alefaceft là một protein tái kết hợp, bao gồm đoạn tận cùng IFA-3 (kháng nguyên liên quan chức năng bạch cầu) và đoạn Fc của IgGI của người. Thuốc này được Cơ Quan Thuốc và Thực phẩm Hoa Kỳ (FDA) công nhận trong điều trị vẩy nến mảng trung bình và nặng vào tháng 1/2003.

Efalizumab là một kháng thể đơn clon IgG1 được nhân hóa trực tiếp chống lại bán đơn vị CD11a trong LFA-1. Efalizumab được điều chế từ tế bào buồng trứng chuột đồng Trung Quốc và được nhân hóa nhằm làm giảm tính sinh miễn dịch. Thuốc này được FDA công nhận trong điều trị vẩy nến vào tháng 10/2003.
Etanerceft là một phân tử tái kết hợp bao gồm thụ thể TNF-ap75 của người (yếu tố hoại tử khối u) và đoạn Fc của IgG1 của người. Etanerceft là một protein hợp chất nhị trùng được điều chế từ tế bào buồng trứng chuột đồng Trung Quốc và được công nhận trong điều trị viêm khớp dạng thấp, viêm khớp vẩy nến và viêm cứng cột sống.

Rosiglitazone maleate là một thiazolidinedione uống được Hoa Kỳ công nhận trong điều trị đái tháo đường loại 2 và hiện đang được nghiên cứu trong điều trị vẩy nến. Thuốc này là một đồng vận mạnh và chọn lọc của PPAR-g (thụ thể hoạt hóa yếu tố tăng sinh peroxisome). Chất này có tác dụng ức chế sản xuất cytokine và thúc đẩy sự biệt hóa tế bào.

Tazarotene là một retinoid, gần đây được công nhận trong điều trị vẩy nến mảng với dạng uống. Tazarotene chuyển hóa thành chất hoạt động, acid tazarotenic và có thời gian bán hủy từ 7 – 12 giờ. Vì vậy, tazarotene có thể là thuốc thay thế an toàn trong điều trị vẩy nến bằng retinoid hệ thống đối với những phụ nữ ở tuổi sinh đẻ.
AYURDERME và Kliquidclorophyl-A ;Thuốc thảo dược cho hiệu quả rất tốt .Tỷ lệ bệnh nhân khỏi bệnh cao đặc biệt không có tác dụng phụ

Kết luận

Vẩy nến là một bệnh do phản ứng miễn dịch gây viêm. Các thuốc ức chế miễn dịch hiện nay có hiệu quả trong việc kiểm soát vẩy nến đến một mức độ nhất định nhưng cũng còn nhiều bất lợi như độc tính cao và dễ tái phát khi ngưng điều trị. Thế hệ điều trị mới tập trung chủ yếu vào các mục tiêu chuyên biệt trong phản ứng miễn dịch qua trung gian tế bào. Chúng ta có thể hy vọng trị liệu như thế sẽ giúp bệnh nhân dung nạp tốt hơn và không còn những tác dụng phụ nghiêm trọng như độc gan, độc thận và ức chế tủy.

Kiêng ky Và hạn chế:

Thịt, sữa, trứng: vì chứa nhiều arachidon là chất xúc tác cho phản ứng viêm tấy không chỉ ngoài da, mà trong khớp, trên thần kinh ngoại biên…
Rượu bia: vì độ cồn là đòn bẩy cho phản ứng thoái biến các loại chất đạm có tác dụng sinh dị ứng. Hơn nữa, tiến trình giải độc rượu của gan bị trì trệ rất nhiều ở người có cơ địa vảy nến.

TIẾN GẦN ĐẾN PHƯƠNG PHÁP MỚI ĐIỀU TRỊ BỆNH VẨY NẾN

Các nhà khoa học Israel thuộc Đại học Ben Gurion đang tiến gần tới việc tìm ra công thức điều chế một loại thuốc có thể chữa được bệnh về da liên quan tới cơ chế tự miễn dịch, được gọi là bệnh vẩy nến.


Giáo sư Amir Aharoni. (Nguồn: israel21c.org)

Công trình nghiên cứu này, do giáo sư Amir Aharoni của khoa Khoa học sự sống chủ trì, đã tìm ra cách ngăn chặn quá trình viêm nhiễm và bong da điển hình của bệnh vẩy nến.

Theo giáo sư Aharoni, bệnh vẩy nến xuất hiện do sự mất cân bằng tự nhiên giữa các dấu hiệu viêm và chống viêm.

Nhóm nghiên cứu đã tìm cách ngăn cản sự phân bào của protein có tên là IL17. Đây là loại protein gây viêm nhiễm và khi cơ thể sản sinh ra lượng protein này ở mức cao thì cơ thể sẽ phản ứng chống lại. Các nhà nghiên cứu đã phát triển một loại protein có tên IL17R có thể ngăn chặn quá trình sản xuất ra IL17.

Các nhà nghiên cứu Israel đã hoàn thành nghiên cứu giai đoạn đầu tiên ở chuột thí nghiệm được cấy da người nhiễm bệnh. Tuy nhiên còn phải mất một thời gian dài nữa phương pháp này mới được bắt đầu thử nghiệm trên bệnh nhân.

Giáo sư Aharoni cho biết, mặc dù các thí nghiệm trên chuột gần như đã thành công 100% song quá trình chữa bệnh theo hướng này mới chỉ bắt đầu và chưa thể nói trước được là sẽ mất bao nhiêu năm nữa để có thể hoàn thiện phương pháp chữa bệnh này.

Theo giáo sư Aharoni, kết quả thử nghiệm khả quan trên mở ra một hướng nghiên cứu mới đối với các loại bệnh khác liên quan tới cơ chế tự miễn dịch và bệnh ung thư. Nhóm nghiên cứu của ông cũng đã bắt đầu nghiên cứu bệnh viêm khớp vì cho rằng liệu pháp protein rất hữu ích trong việc chữa trị loại bệnh này.

NGỪA TÁI PHÁT VẨY NẾN

Chương trình với sự tham gia của PGS.TS Phạm Văn Hiển – Nguyên Giám đốc Bệnh viện Da liễu Trung Ương. Quý vị quan tâm có thể theo dõi trực tuyến và tham gia giao lưu bằng cách đặt câu hỏi ngay từ bây giờ TẠI ĐÂY.

Đọc Thêm : Bệnh vẩy nến

PGS.TS Phạm Văn Hiển. Nguyên Giám đốc Bệnh viện Da liễu
Trung Ương- Chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực Da liễu.

Thương tổn da và ngứa là biểu hiện thường gặp và điển hình của bệnh vẩy nến, đồng thời nó cũng ảnh hưởng đến vấn đề thẩm mỹ, khiến bệnh nhân tự ti, ngại giao tiếp. Bà Nguyễn Thị Sâm (ở Tân Yên, Bắc Giang) bị vẩy nến thể giọt, toàn thân bà, trừ lòng bàn tay, bàn chân và mặt là không bị, còn lại đỏ rực; các nốt này làm bà Sâm luôn ngứa ngáy, khó chịu và tự ti, mặc cảm vô cùng: “Suốt ngày tôi phải mặc quần áo dài, dù vào mùa hè, thời tiết nóng nực đến mấy. Chẳng bao giờ tôi dám đi du lịch hay tắm biển, địa phương có hội hè gì cũng không dám tham gia. Tôi bán hàng ăn uống nên càng ngượng. Lúc bị nặng quá, tôi phải nghỉ làm để trông cháu. Thế cũng chưa hết, đi trông cháu thì chỉ sợ lây sang con cháu nên cái gì cũng phải dùng riêng… Mỗi lần tắm gội, nhìn cơ thể chi chít những nốt đỏ rực, ngứa ngáy, tôi lại cảm thấy chán chường, chỉ nghĩ muốn đi đâu thật xa để không ai biết đến mình, khỏi phải khổ con cháu” - bà Sâm chia sẻ.

Vẩy nến là bệnh tự miễn, tuy nhiên, dưới tác động của các yếu tố: stress, nhiễm khuẩn, chấn thương cơ học, vật lý, rối loạn nội tiết, thuốc tây y... có thể kích thích bệnh tái phát hoặc nặng hơn. Bệnh nhân thường thấy xuất hiện thương tổn trên da, hay gặp nhất là những mảng đỏ có vẩy trắng dày phủ trên bề mặt, nhiều lớp xếp chồng lên nhau, khi bong giống như sáp nến, đường kính từ 1- 20 cm, thường ở các vùng tì đè như: khuỷu tay, đầu gối, rìa tóc, vùng xương cùng, mông. Bệnh nhân còn có thể bị sốt, mệt mỏi, căng đau, ngứa ngáy ở vùng da bị bệnh. Những thương tổn trên da và cảm giác ngứa, bứt rứt, khó chịu,… làm giảm chất lượng sống của người bệnh.

Hiện nay, mặc dù đã có những nghiên cứu về nguyên nhân cũng như phương pháp điều trị giảm ngứa, tổn thương da ở bệnh vẩy nến nhưng hiệu quả vẫn còn nhiều hạn chế, tần suất tái phát khá cao. Bên cạnh đó, nhiều bệnh nhân vẫn còn khá tự ti, ngại giao tiếp với những người xung quanh do tổn thương trên da của bệnh.

Vì vậy, vấn đề cấp bách hiện nay là cần nâng cao sự hiểu biết cho cộng đồng về căn bệnh này. Các chuyên gia khuyến cáo, để tăng hiệu quả điều trị, bệnh nhân mắc vẩy nến cần giữ tâm lý luôn được thoải mái, lạc quan, hạn chế một số đồ uống kích thích như: rượu, cà phê hoặc hút thuốc lá, kết hợp với một số thuốc bôi ngoài da theo chỉ định của bác sĩ .

Ngay bây giờ, để được chuyên gia đầu ngành tư vấn, giải đáp thắc mắc về phương pháp điều trị giảm ngứa và tổn thương da ở bệnh vẩy nến, quý vị có thể tham gia chương trình giao lưu trực tuyến hoặc đặt câu hỏi TẠI ĐÂY.
Thanh Hòa

VẨY NẾN LÀ GÌ?

Vảy nến (Psoriasis) là một bệnh ngoài da mãn tính, hay tái phát với đặc trưng là những mảng hồng ban có vảy trắng bạc và dính rất ngứa, thường có trên khuỷu tay, cánh tay trước, đầu gối, chân, da đầu...


Bệnh vảy nến do rối loạn biệt hóa lành tính của tế bào thượng bì (da), điều trị rất khó khăn, dễ gây chán nản vì không có thuốc đặc trị.
Vẩy nến ở chân
Bệnh có ở 1,5-2% dân số thế giới, gặp nhiều ở vùng Bắc Âu với tỷ lệ 1,5 - 3% và 7-10% tổng số các bệnh nhân đến các phòng khám da liễu ở Việt Nam với di truyền tính trội.

Đến nay, dù chưa hiểu được hết căn nguyên của bệnh nhưng các nhà khoa học thấy có một số nguyên nhân chính:

Yếu tố di truyền: 70% trường hợp song sinh cùng mắc, 30% trường hợp có yếu tố gia đình.

Yếu tố tâm lý: Bệnh gia tăng hoặc tái phát liên quan chặt chẽ tới stress.

Nhiễm khuẩn: Yếu tố này thấy rõ ở trẻ em, nhất là với vảy nến thể giọt, bệnh giảm khi dùng kháng sinh penicillin.

Vai trò của thuốc: Bệnh gia tăng khi dùng các loại thuốc như kháng sốt rét tổng hợp, lithium. Đặc biệt, sử dụng corticoid đường toàn thân làm bệnh nặng lên khi dừng thuốc và tiến triển sang thể đỏ da toàn thân hoặc thể mủ.

Triệu chứng
Đặc điểm bệnh rất dễ nhận thấy bởi những tổn thương riêng lẻ có giới hạn rõ. Người bệnh thấy xuất hiện các đám mảng đỏ kích thước khác nhau, từ vài milimet đến vài chục centimet, hơi gồ cao, nền cứng cộm. Vảy nhiều tầng, nhiều lớp, dễ bong, khi cạo vụn ra như bột phấn, như vết nến rơi lả tả. Vảy tái tạo rất nhanh, số lượng nhiều. Thương tổn mới xuất hiện trên các vùng bị kích thích như gãi, tiêm, mổ; kích thích lý hóa... thường xuất hiện đầu tiên ở vùng da đầu và vùng bị tỳ đè, sau vành tai, khuỷu tay, đầu gối, hông, vùng cơ quan sinh dục. Đôi khi bệnh lan khắp cơ thể. Có khi còn gặp vảy nến ở nếp gấp hay dạng đỏ da lan tràn toàn thân và khó điều trị. Móng tay, lông mày, rốn, hậu môn cũng thường bị bệnh trong 60% các trường hợp.

Vảy nến là bệnh không lây lan (trừ khi bệnh xâm nhập xương khớp hoặc nhiễm độc), không gây ảnh hưởng xấu cho sức khỏe, chỉ ảnh hưởng tâm lý, buồn phiền vì da... chẳng giống ai.

Điều trị

Hiện nay không có trị liệu nào dứt được bệnh vảy nến, mà chỉ làm dịu tạm thời.

Thường thường, vảy nến được chữa theo ba phương thức:

1- Thuốc bôi ngoài da: Loại Corticosteroids như ultravate, tenovate, psorcon; Loại Donovex thuộc nhóm vitamin A analog; Loại Topical Retinoid như tazorac; Nhóm Coal Tar; Acid Salycylic 5%, dầu hắc ín, dithranol, calcipotriol, tazanotene.

2- Điều trị toàn thân với methotrexate, cyclosporine, saulfasalazine, acitretin.

Các loại thuốc này phải được bác sĩ kê đơn và theo dõi vì chúng khá độc.

Bệnh vảy nến có thể chữa bằng Skin cap Spray.

Tháng 1/2003, FDA chấp thuận cho tiêm thuốc amevive (alefacept) dược phẩm sinh học tác dụng trên tế bào miễn dịch T cell để trị bệnh nghi là do miễn dịch gây ra.

3- Trị liệu bằng thuốc đông y.Hiện ở Việt Nam thường ứng dụng công trình nghiên cứu của Lương Y nhân dân Lâm Tuệ Phương về sử dụng đông y trong việc kiềm chế đẩy lùi căn bệnh vẩy nến.