Tìm kiếm Blog này

LỜI KHUYÊN PHÒNG TRÁNH BỆNH VẢY NẾN

Bệnh vảy nến vẫn chưa điều trị khỏi hoàn toàn nhưng nếu người bệnh tuân thủ pháp đồ điều trị và thực hiện tốt những lời khuyên sau đây thì vẫn có thể kiểm soát tốt được căn bệnh của mình: 


Bệnh vẩy nến chiếm 5% dân số châu Á, xấp xỉ 10% tổng số các bệnh nhân đến khám ở các phòng khám da liễu.Bệnh lành tính, thường không ảnh hưởng đến sức khỏe nhưng ảnh hưởng đến thẩm mĩ, tâm lí và những hệ lụy của nó. Nam gặp nhiều hơn nữ, người lớn nhiều hơn trẻ em. Bệnh phát thành từng đợt, có khi tăng giảm theo mùa

Hồng ban giới hạn rõ rệt, có vẩy trắng như nến, có thể gây ra thành từng lớp như mica, có khi nổi dát đỏ như gọt nước, có khi to, tròn hoặc bầu dục, đường kính 2,5cm, có khi thành mảng rộng do nhiều dát kết hợp lại.

Vị trí đặc hiệu: Vùng da bị tỳ, cọ nhiều như khuỷ tay, đầu gối, mông, xương cùng, vùng mấu chuyển lớn.

Lúc đầu từng lớp vẩy bong ra như nến rồi đến màng bong là một màng rất mỏng. Khi màng đó đã được nạo đi sẽ thấy rướm máu lấm tấm, có lẫn cả tiết dịch trong giống như những giọt sương li ti, vì vậy còn được gọi là hiện tượng sương máu (phénomène de la rosée sanglante), có giá trị rất lớn để chẩn đoán.

Có trường hợp vẩy nến khu trú ở da đầu, ăn xuống rìa tóc hoặc ở lòng bàn tay, bàn chân, có khi lan ra toàn thân. Móng tay chân có thề dày, sần sùi, móng có vạch ngang, dễ gãy dưới móng có chứa bột trắng.

Nhiều trường hợp vảy nến nổi ngay trên các vết sẹo, vết sượt da, vết mổ, vết tiêm. Bệnh gây ngứa ít nhiều tuỳ từng theo từng người, tiến triển từng đợt, lúc ổn định, lúc vượng, có lúc tự nhiên khỏi. Thường hay tái phát theo mùa, có người nặng về mùa hè, có người nặng về mùa đông. Bệnh lâu ngày tính chất mùa không còn rõ rệt. Một số ít phụ nữ lúc mang thai bệnh nhẹ hoặc hết, sau sanh, da lại bị tổn thương hoặc nặng hơn.

1. Thể đỏ da: do bệnh phát triển, da toàn thân đỏ, sưng, tróc vảy, kèm phát sốt, các khớp đau, lòng bàn chân sừng hoá, móng dày lên và rụng.

2. Thể khớp: thường vảy nến tăng lan đến các khớp lớn nhỏ như khớp ngón, khớp cổ tay, cổ chân, khớp gối, nhẹ là khớp sưng, nặng thì dịch bao khớp xương huỷ hoại, khớp dị dạng.

3. Thể mụn mủ: tế bào gai bị tổn thương rõ, trên tổn thương vảy nến mọc lên những mụn mủ không có vi khuẩn, gặp nhiều ở người lớn tuổi.

Những người đã mắc bệnh vảy nến nên thực hiện những lời khuyên sau đây để điều trị vảy nến và phòng tránh căn bênh vảy nến hiệu quả:

1. Giữ tinh thần luôn thoải mái, vui vẻ tránh các lo âu phiền muộn, không thức khuya.Tinh thần thoải mái tránh lo âu để phòng tránh bệnh vảy nến

2. Tránh dùng các chất kích thích như rượu bia, cà phê, thuốc lá, các loại thức ăn chứa nhiều đường nhiều chất béo.

3. Nên thường xuyên đi khám và sử dụng thuốc theo chỉ định của bác sĩ, tránh dùng các thuốc ức chế miễn dịch hệ thống để điều trị bệnh vì có thể làm bệnh nặng hơn. Tránh các vết thương trầy xước ngoài da. Tránh dùng các thuốc ức chế miễn dịch hệ thống để điều trị bệnh vì có thể làm bệnh nặng hơn

4. Trường hợp bệnh tiến triển nặng cần nhập viện để được điều trị tích cực nhằm phòng chống các biến chứng ở khớp

VIÊM KHỚP VẨY NẾN


Phong cách sống và biện pháp khắc phục bệnh viêm khớp vẩy nến
Bảo vệ các khớp xương. Thay đổi cách thực hiện các công việc hàng ngày có thể tạo sự khác biệt to lớn trong cách cảm nhận. Ví dụ, có thể tránh căng các khớp ngón tay bằng các tiện ích sử dụng như dụng cụ mở bình để xoay nắp từ lọ, bằng cách nhấc chảo nặng hoặc các đối tượng khác với cả hai tay, và bằng cách đẩy cánh cửa mở với toàn bộ cơ thể thay vì chỉ ngón tay.


Vẩy nến ở trẻ nhỏ
Duy trì một trọng lượng khỏe mạnh. Duy trì cân nặng ít hơn những nơi dòng khớp, dẫn đến đau giảm và năng lượng và di động tăng. Cách tốt nhất để tăng chất dinh dưỡng trong khi hạn chế lượng calo là ăn nhiều loại thực phẩm dựa trên cây trồng, hoa quả, rau và ngũ cốc.

Tập thể dục thường xuyên. Tập thể dục có thể giúp giữ cho các khớp xương linh hoạt và cơ bắp mạnh mẽ. Các loại bài tập ít căng thẳng trên các khớp bao gồm xe đạp, bơi lội và đi bộ.

Sử dụng và gói nóng lạnh. Bởi vì lạnh có tác dụng làm tê liệt, nó có thể giảm các cảm giác đau đớn. Có thể áp dụng nhiều lần lạnh một ngày hoặc 20 – 30 phút tại một thời điểm. Nhiệt có thể giúp thư giãn cơ bắp căng thẳng và giảm đau.

Giới hạn cho mình. Chiến đấu với nỗi đau và viêm nhiễm có thể để lại cho cảm giác kiệt sức. Ngoài ra, một số loại thuốc viêm khớp có thể gây ra mệt mỏi. Chìa khóa không phải là để ngăn chặn được hoạt động hoàn toàn, nhưng nghỉ ngơi trước khi trở nên quá mệt mỏi. Chia tập thể dục hoặc hoạt động làm việc thành các đoạn ngắn. Tìm thời gian để thư giãn vài lần trong ngày.

Đối phó và hỗ trợ

Viêm khớp vẩy nến có thể được đặc biệt khuyến khích vì nỗi đau tinh thần mà bệnh vẩy nến có thể gây ra được pha trộn bởi đau khớp, và trong một số trường hợp, tình trạng khuyết tật.

Sự hỗ trợ bạn bè và gia đình có thể tạo sự khác biệt rất lớn khi đang phải đối mặt với những thách thức về thể chất và tâm lý của bệnh viêm khớp vẩy nến. Chỉ cần có ai đó để nói chuyện với có thể cung cấp cho sức mạnh. Đối với một số người, các nhóm hỗ trợ có thể cung cấp những lợi ích tương tự – điều này có thể được đặc biệt quan trọng nếu đang lo lắng về gánh nặng lên những người thân yêu.

Một cố vấn hay trị liệu có thể giúp đưa ra chiến lược đối phó để giảm mức độ stress. Các hóa chất cơ thể phát hành khi đang bị căng thẳng có thể ức chế hệ thống miễn dịch và làm nặng thêm cả hai bệnh vẩy nến và viêm khớp vẩy nến.

CÁCH CHĂM SÓC TRẺ BỊ BỆNH VẢY NẾN

Mặc dù bệnh vẩy nến hiếm khi phát triển ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, nhưng 1/3 số người mắc bệnh trước khi 18 tuổi. Do đó, các bậc phụ huynh cần biết cách chăm sóc trẻ bị bệnh vảy nến.


Những người mắc bệnh vẩy nến khi còn trẻ đa số là do yếu tố tiền sử gia đình có người mắc bệnh. Hình thức phổ biến nhất của bệnh ở trẻ em các mảng bám trên các vùng khuỷu tay, đầu gối và lưng dưới, da đầu. Bệnh cũng có thể phát triển ở các khu vực nhạy cảm hơn như mặt, nách, háng… Bệnh vẩy nến ở trẻ em có xu hướng ít bong tróc hơn ở người lớn, và có xu hướng màu đỏ tươi và bóng.
Bệnh vảy nến ở trẻ em
Bệnh vảy nến guttate phổ biến ở trẻ em và thanh thiếu nhiên. Nguyên nhân của bệnh là do vi khuẩn streptococcus, và thường xảy ra sau khi bị nhiễm trùng cổ hong. Bệnh vảy nến guttate giống như một phát ban nhỏ, vảy có đường kính khoảng 1 cm, xuất hiện trên thân, chân tay và da đầu. Bệnh vẩy nến gây ra nhiều bất tiện cho sinh hoạt của người bệnh.

Điều trị bệnh vảy nến ở trẻ em

Bệnh vảy nến có thể điều trị tại chỗ. Dưỡng ẩm và làm mềm da là rất quan trọng trong việc giữ ẩm cho da và giúp kem điều trị phát huy tối đa hiệu quả. Da ẩm có thể giảm các triệu chứng ngứa và đau nhức.

Nếu tình trạng bệnh nghiêm trọng, trẻ cần được khám bác sĩ và thực hiện các phương pháp điều trị mạnh hơn như ánh sáng trị liệu, …. Bệnh vảy nến ảnh hưởng nhiều tới sự tự tin của trẻ. Dưới đây là một số lời khuyên để đối phó với bệnh vảy nến ở trẻ:

- Trẻ cần được sinh hoạt bình thường – bệnh vảy nến chỉ là một phần của cuộc sống. Trẻ có thể được chơi bất cứ môn thể thao nào.

Vảy nến có thể gây tình trạng phát ban

- Phụ huynh và trẻ có thể có quan điểm khác nhau về phương pháp điều trị. Điều quan trọng là cần thống nhất và tôn trọng quan điểm của trẻ. Những lưu ý dưới đây sẽ giúp kiểm soát bệnh ở trẻ:

- Cho trẻ sử dụng quần áo, đồ lót chất liệu cotton thoáng mát. Ga trải giường, chăn mền cần được sạch sẽ là thoáng khí.

- Thông báo cho giáo viên trong trường hợp trẻ cần được đi khám hoặc giáo viên có thể can thiệp giải thích cho các bạn trong lớp rằng đây không phải bệnh truyền nhiễm, không nên cô lập trẻ bị bệnh.

- Thiết lập thói quen điều trị. Dùng thuốc đúng thời gian chỉ dẫn của bác sĩ.

- Cho trẻ sử dụng kem dưỡng ẩm và mang theo túi xách nếu phải đi xa.

BỆNH VẨY NẾN HAY VẨY CÁ

Bệnh vẩy cá gồm một nhóm các bệnh có đặc trưng là vẩy da khô ráp giống như vẩy cá, lan tỏa, không viêm, tồn tại lâu. Tuy các thể bệnh vẩy cá ít ảnh hưởng đến sức khỏe người bệnh nhưng lại gây ra nhiều phiền toái về thẩm mỹ. Hiểu biết các thể bệnh sẽ giúp chúng ta chăm sóc người bệnh tốt hơn.


Vẩy cá thể thông thường
Vẩy cá bẩm sinh thể thông thường thường gặp nhất, đây là bệnh di truyền gen trội, hiếm khi biểu hiện nặng, tỷ lệ mắc khoảng 1/250. Khoảng 37 - 50% trường hợp mắc đồng thời với viêm da cơ địa hay các bệnh dị ứng khác như viêm mũi dị ứng, hen...
l
Bạn lo lắng không biết mình bị bệnh gì?

Bệnh vẩy cá thể thông thường.
Dấu hiệu lâm sàng gồm: Da khô, bong vẩy khi sơ sinh, hoặc khoảng 2 tháng sau sinh hay muộn hơn. Vẩy da có màu trắng xám, nhỏ mịn, mảnh nhỏ cuộn tròn bám nửa vào da. Da toàn thân có thể bong vẩy bất thường nhưng chủ yếu ở mặt duỗi, nhất là ở cẳng chân. Tổn thương ở thành bụng nhưng vùng bẹn bình thường. Trên mặt, tổn thương có ở trán, quanh miệng, có thể có gàu nhẹ ở da đầu. Ở bàn tay, bàn chân, các vân tay trở nên rõ do bị dày sừng nhẹ. Không tổn thương lông, tóc, móng và răng, niêm mạc, mắt. Bệnh nhẹ dần khi tuổi càng cao. Bệnh nhân có cảm giác da khô, ráp và thiếu tự tin vì vấn đề thẩm mỹ. Nếu chỉ bị vẩy cá đơn thuần thì không bị ngứa nhưng nếu phối hợp với viêm da cơ địa thì thường kèm theo ngứa, gãi có thể gây dày da liken hóa và các vết xước. Bệnh thường bớt khi đến tuổi dậy thì, tuy nhiên cũng có một số bệnh nhân lại bị nặng lên.

Điều trị: Bệnh nhân cần được ở trong môi trường ấm, có độ ẩm vừa phải. Điều trị bằng cách bôi các kem dịu da, mềm da. Nếu bệnh nặng phải bôi các chế phẩm có parafin. Những người do bận làm việc không bôi kem đều đặn được thì có thể dùng sữa tắm có kem. Nếu dùng mỡ salicylic 3 - 5% thì có tác dụng làm bong vẩy, nhưng dễ gây kích ứng và nhiễm độc nếu bôi diện rộng. Các loại acid hoa quả như lactat, glycolic, malic, citric, pyruvic... 5 - 10% chế phẩm dạng dầu hoặc kem, lotion có tác dụng làm dịu da, mịn da. Đối với bệnh nhân bị cả hai bệnh vẩy cá và viêm da cơ địa, cần phải sử dụng kem có corticosteroid.

Vẩy cá do nhiễm sắc thể X 
Đây là thể bệnh di truyền gen lặn của nam giới sinh ra từ bà mẹ mang gen bệnh nhưng không có triệu chứng, bệnh xuất hiện sớm sau sinh. Triệu chứng đặc trưng là vẩy da nhiều, màu nâu bẩn ở gáy, chi, thân mình và mông. Thể này chỉ gặp ở nam với tỷ lệ mắc phải 1/2.000 - 6.000. Gen bệnh là Xp22.32 ở nhiễm sắc thể X. Nếu nữ mang gen này thường không biểu hiện bệnh. Bệnh sinh do thiếu hụt men Steroid sulfatase. Triệu chứng thường xuất hiện sớm ngay sau khi sinh hoặc tháng đầu tiên với tỷ lệ khoảng 75%. Biểu hiện vẩy da to, dính, màu nâu sẫm bẩn, hình đa giác. Tổn thương hay thấy ở mặt gấp, như vậy là trái ngược với vẩy cá thể thông thường, và mặt duỗi như sau cổ, quanh tai, vùng mặt - cằm, mặt duỗi cánh tay, nếp gấp khuỷu tay, khoeo chân. Tổn thương ít có ở vùng bụng, ngực, nhưng rõ hơn ở các vùng mặt duỗi tay, mặt ngoài đùi và cẳng chân. Tổn thương có thể ở da đầu, nách, mu tay, mu chân, nhưng bàn tay, bàn chân và mặt không bị tổn thương. Đục giác mạc ở khoảng 50% trường hợp. Đặc biệt triệu chứng tinh hoàn ẩn gặp khoảng 20% trường hợp, tinh hoàn lạc chỗ, vô sinh... Bệnh không nhẹ khi bệnh nhân lớn lên và thường biểu hiện nặng hơn vào mùa khô hanh.

Điều trị: Dùng thuốc bôi như với vẩy cá thể thông thường. Uống thuốc retinoid có hiệu quả đối với một số trường hợp nhưng cần thận trọng với các tác dụng phụ của thuốc và phải do bác sĩ chỉ định và theo dõi chặt chẽ.

Vẩy cá bong vẩy lá
Đây là thể bệnh thường xuất hiện ngay sau khi sinh với triệu chứng đứa trẻ có bọc màng, sau đó màng sẽ mất đi nhanh và xuất hiện các vẩy da lớn, thô trên da toàn thân bao gồm cả mặt gấp của chi, bàn tay, bàn chân. Bệnh làm ảnh hưởng lớn về thẩm mỹ.

Biểu hiện: Khi sinh ra trẻ đã bị bệnh với biểu hiện có màng bọc toàn thân, màng bọc trong và bong đi trong vài tuần, đỏ da toàn thân, lộn mi và lộn môi, da mặt căng. Trẻ nhỏ và người lớn có vẩy da như giấy ở toàn thân, trông như hình ảnh lát đá hoa. Vẩy da to, dày, màu nâu bao phủ khắp cơ thể, nặng nhất ở chi dưới. Da ở quanh khớp dày sừng có khi sùi cao lên. Dày sừng ở bàn tay, bàn chân, lòng bàn tay, bàn chân nứt. Có thể xuất hiện đỏ da toàn thân. Tóc có thể bị rụng do nhiễm khuẩn. Tổn thương gây sẹo, thường có màu nâu do vẩy da. Niêm mạc không bị tổn thương. Trẻ có nguy cơ bị mất nước, tăng natri huyết, bội nhiễm và nhiễm khuẩn huyết. Bệnh tồn tại suốt đời và không tiến triển nhẹ đi khi lớn lên. Dày sừng làm tắc các tuyến bài tiết mồ hôi, làm cho bệnh nhân không tiết được mồ hôi...

Điều trị bằng cách bôi các thuốc làm dịu da, mềm da. Bôi thuốc bong vẩy da và alpha - hydroxy acid, uống retinoid như trong trường hợp trên.

BỆNH VẨY NẾN VÀ VẤN ĐỀ MANG THAI

Nói chung, bệnh vẩy nến không ảnh hưởng đến hệ thống sinh sản nam hay nữ. Tuy nhiên, phương pháp điều trị bệnh vẩy nếnyêu cầu các biện pháp phòng ngừa đặc biệt trước và trong khi mang thai. Điều quan trọng là để tham khảo ý kiến ​​với bác sĩ để lựa chọn phương pháp điều trị bệnh vẩy nến của bạn là an toàn cho việc mang thai và cho con bú.

Vẩy nến không ảnh hưởng đến hệ thống sinh sản
Bệnh vẩy nến thay đổi trong thời kỳ mang thai?
Một số phụ nữ thấy sự cải thiện trong mức độ nghiêm trọng của bệnh vẩy nến của họ trong thời kỳ mang thai, trong khi những người khác lại cảm thấy bệnh vẩy nến của họ trở nên tệ hơn. Thay đổi mức độ nghiêm trọng của bệnh vẩy nến khác nhau đối với từng cá nhân đáp ứng khác nhau

Khía cạnh di truyền của bệnh vẩy nến
Bệnh vẩy nến được cho là một bệnh di truyền, nhưng nó không theo một khuôn mẫu điển hình chi phối. Không ai có thể dự đoán đứa trẻ sinh ra có bị vẩy nến hay không? Hiện tại vẫn chưa tìm ra căn cứ di truyền của bệnh vẩy nến. Nếu bố hoặc mẹ bị vẩy nến thì đứa trẻ sinh ra có nguy cơ 10% bị mắc bệnh vẩy nến. Nếu cả cha và mẹ bị vẩy nến thì nguy cơ đứa trẻ bị vẩy nến tăng lên tới 50%.

Các nghiên cứu của các cặp song sinh giống hệt nhau với bệnh vẩy nến cho thấy rằng bệnh vẩy nến có một phần di truyền. Nhưng những nghiên cứu tương tự cũng khẳng định sự phức tạp của bệnh vẩy nến. Ngoài ra, yếu tố môi trường cũng đóng vai trò quan trọng trong việc phát sinh vẩy nến. Lý thuyết cho rằng bệnh vẩy nến được kích hoạt bởi một sự kết hợp của các gen và các lực lượng bên ngoài được gọi là "đa yếu tố thừa kế." Một khi các gen chịu trách nhiệm cho bệnh vẩy nến được phát hiện, các mô hình thừa kế có thể được hiểu rõ hơn.

Nếu bạn muốn có thai, hãy nói với bác sỹ của bạn để họ có thể sử dụng thuốc và kiểm soát bệnh của bạn tốt hơn cả trước khi mang thai, sau khi mang thai và trong lúc cho con bú.

Một nghiên cứu gần đây được công bố trên Tạp chí của Học viện Da liễu Mỹ cho thấy rằng phụ nữ bị bệnh vẩy nến nặng có thể sinh một em bé nhẹ cân hơn so với những phụ nữ không có bệnh vẩy nến. Tuy nhiên, phụ nữ với bệnh vẩy nến nhẹ thì ít ảnh hưởng đến thai nhi.

THUỐC RAPTIVA TRỊ BỆNH VẨY NẾN ẢNH HƯỞNG TỚI NÃO

Cục Quản lý Dược, Bộ Y tế vừa có công văn gửi Sở Y tế các tỉnh, thành phố thông báo không được sử dụng thuốc Raptiva của Công ty Serono. Đây là loại thuốc điều trị bệnh vẩy nến mãn tính vừa bị Cơ quan Y tế châu Âu cấm lưu hành vì có nguy cơ thâm nhiễm bạch cầu vào não đa ổ tiến triển ở bệnh nhân dùng thuốc. Tuy nhiên, theo Cục Quản lý Dược, hiện thuốc này chưa được Cục cấp số đăng ký lưu hành tại Việt Nam. 
T.B

VẨY NẾN LIÊN QUAN TỚI TĂNG HUYẾT ÁP Ở PHỤ NỮ

Vẩy nến là bệnh da mạn tính tác động tới 1-3% dân số. Phụ nữ mắc bệnh này có thể tăng nguy cơ bị bệnh đái tháo đường và cao huyết áp.


Vẩy nến thể giọt
Kết quả nghiên cứu trên hơn 78.000 phụ nữ được theo dõi trong 14 năm đã cho thấy người bị bệnh vẩy nến tăng 63% nguy cơ bị bệnh đái tháo đường và tăng 17% nguy cơ bị cao huyết áp so với người không bị vẩy nến. Các nhà khoa học Mỹ cho rằng, phản ứng viêm liên quan tới vẩy nến có thể lý giải mối liên quan giữa bệnh vẩy nến và cao huyết áp, đái tháo đường. Viêm đã được biết là yếu tố nguy cơ gây cao huyết áp và cũng góp phần gây kháng insulin, là tình trạng tiền đái tháo đường.

Theo nhóm nghiên cứu, kết quả này khẳng định tầm quan trọng của việc coi bệnh vẩy nến là bệnh hệ thống thay vì chỉ là bệnh da đơn thuần và cần nghiên cứu thêm để xác định xem liệu các biện pháp điều trị bệnh vẩy nến có giúp làm giảm nguy cơ bị bệnh đái tháo đường và cao huyết áp hay không.

Hải Minh (Theo Archives of Dermatology, 4/2009