Tìm kiếm Blog này

TRỊ VẢY NẾN BẰNG CÂY MUỒNG TRÂU

Bệnh vẩy nến

Thân ái chào quý anh chị em!
Bệnh vảy nến là một loại bệnh mà các tế bào da khi chết dày lên tạo thành những nốt vảy da gây ngứa, các vẩy như vảy cá trên da ngày càng phát triển làm cho người bệnh luôn bị ngứa ngáy rất khó chịu.

Chánh Tuân có một người thân bị bệnh vảy nến hơn 10 năm nay, đã đi chữa trị nhiều nơi và sử dụng rất nhiều loại thuốc khác nhau nhưng không thể chữa trị khỏi hoàn toàn căn bệnh này và được các bác sỹ khuyên nên “sống chung hòa bình” với căn bệnh này.

Thật may mắn vì tình cờ gần đây Chánh Tuân được một người quen chỉ cho hai bài thuốc dân gian để điều trị bệnh vảy nến rất đơn giản, dễ làm, chi phí thấp nhưng lại rất hiệu nghiệm (kiên trì thực hiện liên tục ít nhất 2 tháng sẽ thấy kết quả), đến nay người thân của Chánh Tuân đã gần như khỏi hẳn bệnh. Chánh Tuân cũng đã chia sẻ 2 bài thuốc này đến một vài người quen đang bị bệnh vảy nến và cũng đã giúp cho căn bệnh của họ được thuyên giảm một cách rất đáng kể. 
Cây muồng trâu
Mọi người chỉ nên sử dụng bài thuốc dân gian sau đây: 

. Bài thuốc  (Rất hiệu nghiệm và dễ thực hiện): Dùng lá và đọt tươi của cây Muồng Trâu rửa sạch rồi đâm nhuyễn lấy nước, sau đó pha với dung dịch kem thuốc điều trị bệnh lác nhãn hiệu KenTax (loại thuốc được bán rất phổ biến tại các tiệm thuốc Tây dùng để điều trị các bệnh nấm trên da, Tuyp thuốc màu cam, lớn bằng ngón tay út) theo tỷ lệ 2/3 nước lá và đọt Muồng Trâu tươi với 1/3 dung dịch kem thuốc lác. Sau đó chấm bông gòn thoa hỗn hợp thuốc này vào vị trí những nơi bị vảy nến. 

                                                                                                        Chánh Tuân

LÀM CÁCH NÀO CHỮA KHỎI BỆNH VẢY NẾN

Muốn chữa khỏi bệnh vảy nến á sừng thì phải làm như thế nào ạ?

(Khánh - Thái Bình)

Trả lời:

Khánh thân mến,

Vảy nến và á sừng là 2 bệnh hoàn toàn khác nhau. Em hãy cùng AloBacsi tìm hiểu một chút về 2 bệnh này, em nhé!

Vảy nến biểu hiện trên da là các mảng đỏ khi đè lên thì màu đỏ này biến mất, có ranh giới rất rõ với vùng da lành bên cạnh và đóng vảy trắng đục, kích thước từ vài cm đến hàng chục cm (gọi là vảy nến mảng) hoặc chỉ là các thương tổn màu đỏ, khá đồng đều, hơi gồ lên mặt da kích thước chừng vài mm (gọi là vảy nến giọt), nếu bệnh nặng sẽ lan rộng toàn thân (gọi là vảy nến toàn thân).

Khi cào, gãi thì vảy bị rớt ra một cách dễ dàng giống như sáp đèn cầy nên có tên gọi là vảy nến. Các thương tổn này phân bổ một cách đối xứng ở rìa chân tóc, da đầu (trông giống như gàu), khuỷu tay, đầu gối, vùng xương cụt, bộ phận sinh dục hoặc các nếp gấp.

Bệnh không đau, có thể gây ngứa ít hay nhiều. Trường hợp nặng có thể gây sốt, sưng, đau và biến dạng các khớp làm giới hạn vận động, hay có thể làm cho đỏ da toàn thân không hồi phục.

Nguyên nhân chính gây ra bệnh vảy nến là do bất thường miễn dịch. Ngoài ra, yếu tố di truyền, căng thẳng, các chấn thương tâm lý, thuốc, nhiễm liên cầu trùng, nhiễm siêu vi... cũng ảnh hưởng trên sự khởi phát, tái phát hoặc làm bệnh nặng thêm.

Á sừng là bệnh ngoài da khá phổ biến với biểu hiện thường gặp là: các đầu ngón tay, chân, gót chân khô ráp, tróc da, nứt nẻ ở rìa do lớp sừng chuyển hóa dở dang, tế bào còn nhân và nguyên sinh, chưa chuyển hóa hết thành sừng (gọi là sừng non).

Vào mùa nóng, vùng da bệnh bị ngứa, nổi mụn nước, lâu ngày có thể làm các móng xù xì lỗ chỗ. Vào mùa lạnh, tình trạng nứt nẻ tăng lên làm vùng da tổn thương dễ bị nức toác ra, chảy máu.

Nguyên nhân gây á sừng đến nay vẫn chưa xác định, song nhiều nhà khoa học cho rằng đó là do yếu tố di truyền trong gia đình hoặc thói quen dinh dưỡng không cân đối, thiếu vitamin, nhất là A, C, D, E… sẽ ảnh hưởng đến chất lượng lớp sừng.

Về việc điều trị thì á sừng là viêm da do cơ địa dị ứng, có thể tự khỏi khi có sự thay đổi nội tiết như đến tuổi dậy thì, mang thai, mãn kinh… Phương pháp điều trị hiện nay là bôi tại chỗ vùng da tổn thương bằng các thuốc tạo sừng và sử dụng kết hợp với thuốc bôi kháng sinh hay chống nấm nếu bị nhiễm khuẩn hay nhiễm nấm. Trường hợp nặng có thể phải dùng corticoid, kháng histamin.

Còn đối với vảy nến là bệnh do bất thường miễn dịch, hiện nay chưa có thuốc điều trị khỏi hoàn toàn.

Các thuốc ức chế sự hình thành quá trình miễn dịch, ức chế sự tân sinh và thuốc chứa chất vitamine A acide là các thuốc đặc trị, được dùng cho trường hợp vảy nến kháng trị hoặc vảy nến mủ, cho kết quả điều trị khá tốt nhưng có nhiều tác dụng phụ và rất đắt tiền.

Việc trị liệu chỉ nhằm mục đích giúp cải thiện chất lượng cuộc sống, giúp thuyên giảm các biểu hiện ngoài da, giảm nguy cơ dẫn đến các biến chứng nặng nề, khó chữa như tổn thương khớp, vảy nến mủ hoặc bệnh đỏ da toàn thân.

Do đó, vẫn phải “chung sống hòa bình” với nó thôi em. Em cứ tiếp tục khám chuyên khoa Da liễu, BS sẽ tư vấn cho em kỹ hơn về việc trị liệu 2 bệnh trên, em nhé!

Thân ái chào em!

BS-CK1 Nguyễn Minh Thu

AloBacsi.vn - nơi bạn có thể trò chuyện, chia sẻ mọi thắc mắc với bác sĩ chuyên khoa.

Đặc biệt, từ ngày 15/6/2011, danh sách BS tư vấn Khám bệnh Online của AloBacsi có thêm hai chuyên gia tâm huyết.

Đó là GS - BS Nguyễn Thị Ngọc Phượng - Nguyên giám đốc BV Từ Dũ sẽ "gỡ rối" cho chị em về bệnh phụ khoa.

Và, TS.BS Lê Tuyết Hoa - 20 năm công tác tại BV Chợ Rẫy - chuyên ngành Đái tháo đường - Nội tiết sẽ giải đáp mọi thắc mắc về Nội Tiết - Tiểu đường.

AloBacsi.vn giúp bạn giải đáp 1.001 thắc mắc về sức khỏe.

Mọi thắc mắc về sức khỏe gửi đến email: kbol@alobacsi.vn.

Bạn đọc có thể ghi kèm số điện thoại để bác sĩ liên hệ khi cần thiết.

Để chính xác về nội dung, vấn đề cần hỏi, bạn đọc vui lòng gõ có dấu (font chữ Unicode).

Chân thành cảm ơn.

NGUYÊN NHÂN VÀ CÁC THỂ BỆNH VẢY NẾN

Ảnh Minh Họa
>>http://diendanchuakhoivaynen.blogspot.com/2012/07/ia-chi-tin-cay-voi-nguoi-benh.html

Nguyên nhân gây ra bệnh vảy nến
Vẩy nến là do rối loạn biệt hóa lành tính của tế bào thượng bì. Cho đến nay vẫn chưa khẳng định rõ ràng nguyên nhân. Nhưng người ta biết chắc chắn 5 yếu tố sau đây làm nên cơ chế sinh bệnh:

- Di truyền: Khoảng 30% bệnh nhân có yếu tố gia đình (cha, mẹ, anh chị em ruột hoặc họ hàng trực hệ); 70% các cặp song sinh cùng mắc. Các nghiên cứu chỉ ra các kháng nguyên HLAW6, B13, B17, DR7 liên quan đến vẩy nến da và khớp.

- vẩy nến ở trẻ em, vẩy nến thể giọt người ta phân lập được liên cầu khuẩn ở tổn thương và điều trị kháng sinh thì bệnh thuyên giảm.

- Stress: Làm bệnh tái phát hoặc đột ngột nặng lên.

- Thuốc: Bệnh vẩy nến xuất hiện sau khi sử dụng một số thuốc: chẹn beta kéo dài, lithium, đặc biệt sau khi sử dụng corticoid.

- Hiện thượng Kobner: thương tổn mọc lên sau các kích thích cơ học (gãi, chà xát) hoặc các kích thích lý hóa (bệnh nặng nhẹ theo mùa).

Các thể bệnh vẩy nến:

– Dạng thường gặp là vẩy nến thể mảng: những vùng da bệnh có màu đỏ đóng vẩy màu trắng bạc bên trên.

– Vẩy nến giọt: thể hiện dưới dạng những sang thương hình bầu dục màu đỏ ở thân, chi và da đầu.

– Vẩy nến mủ: bề mặt da xuất hiện những bóng nước có chứa mủ.

– Vẩy nến đảo ngược: thể hiện dưới dạng những mảng đỏ, láng ở da của những nếp gấp như quanh cơ quan sinh dục, dưới vú, nách…

– Vẩy nến đỏ da: là thể nặng, da bị đỏ tróc ra từng mảng thường ảnh hưởng tới một vùng lớn trên cơ thể. Bệnh nhân có thể tử vong do da mất chức năng bảo vệ dẫn đến hậu quả nặng nề là các rối loạn thân nhiệt và cân bằng nước – điện giải.

– Viêm khớp vẩy nến: có thể viêm bất cứ khớp nào, thường là các khớp ngón tay, ngón chân nhưng có thể xảy ra ở khớp hông, gối, cột sống…

CHỮA BỆNH VẢY NẾN - THUỐC GÌ?

Tổn thương da trong bệnh vảy nến.
>>http://diendanchuakhoivaynen.blogspot.com/2012/07/ia-chi-tin-cay-voi-nguoi-benh.html

Bệnh vảy nến là một bệnh mạn tính, biểu hiện đỏ da và bong vảy trắng bạc như sáp nến. Bệnh gặp ở mọi lứa tuổi, mọi giới, được chia làm 6 thể chính: vảy nến thể mảng, thể giọt, thể mủ, thể đỏ da toàn thân, thể đảo ngược và thể khớp. Vì vậy việc điều trị phụ thuộc vào các thể bệnh, mức độ nặng nhẹ và diện tích thương tổn. Có 3 bước tiếp cận là: thuốc bôi tại chỗ, dùng thuốc đường uống (toàn thân) và quang hoá trị liệu. Thông thường các thầy thuốc dùng phối hợp các phương pháp trên.

Thuốc điều trị tại chỗ gồm các loại
Corticosteroids (diproson, diprosalic, betnovate, dermovate...): Thuốc có tác dụng giảm viêm, giảm quá trình chuyển hoá của tế bào da và ức chế hệ miễn dịch nhưng không được dùng kéo dài vì dễ gây biến chứng như teo da, rạn da...

Calcipotrience (daivonex): Thuốc dạng tổng hợp của vitamin D3 có tác dụng khống chế tốc độ sừng hoá của da trong bệnh vảy nến. Không bôi thuốc lên mặt và bộ phận sinh dục, thuốc có thể gây kích ứng da.

Retinoid (tazorax) dạng gel hoặc cream là dạng tổng hợp của vitamin A, bôi tại chỗ tác dụng không nhanh như corticosteroids nhưng không có biến chứng như corticosteroids. Tuy nhiên thuốc có thể gây kích ứng da. Dùng phối hợp với corticosteroids hiệu quả sẽ tốt hơn. Lưu ý thuốc có nguy cơ gây quái thai nên phụ nữ trong tuổi sinh đẻ nhất thiết phải tránh thai khi dùng thuốc này.

Coaltar (dầu than đá): một số xà phòng, dầu gội đầu có chứa coaltar (polytar liquid). Sử dụng dầu gội đầu, tắm có tác dụng bong vảy, sạch da nhưng kém hiệu quả hơn corticosteroids. Thuốc có mùi hôi, làm bẩn da và quần áo nên không phổ biến với các bệnh nhân.

Salisylic acid dạng mỡ, kem, gel 2%, 5% có tác dụng bạt sừng mạnh thường được dùng phối hợp với corticosteroids, coaltar hiệu quả điều trị sẽ cao hơn.

Thuốc điều trị toàn thân
Được chỉ định cho những trường hợp vảy nến thể nặng (đỏ da toàn thân, thể khớp, thể mủ) và phải có sự theo dõi chặt chẽ của thầy thuốc tại bệnh viện như:

Methotrexate: ức chế hệ miễn dịch làm chậm quá trình phân bào. Thuốc có 2 dạng uống và tiêm, không dùng cho người bị bệnh gan, phụ nữ có thai vì thuốc có hại cho tế bào gan và máu, có thể gây quái thai.

Retinoid (soriantane, tigason) là một dạng của vitamin A acid được chỉ định cho các trường hợp vảy nến nặng.

Cyclosporine là thuốc ức chế miễn dịch làm chậm quá trình phân bào của tế bào da do vậy nhanh chóng làm sạch vảy, được chỉ định cho các trường hợp nặng, kháng lại các phương pháp điều trị khác. Thuốc gây độc cho thận và gây tăng huyết áp, do vậy bệnh nhân phải được theo dõi điều trị tại bệnh viện.

Alefacept (amevie) và etanercept (enbrel) là chế phẩm sinh học cũng có tác dụng rất tốt với bệnh vảy nến.

Quang hoá trị liệu gồm các liệu pháp:
Tắm nắng: Trong ánh nắng có tia cực tím (UV), khi hấp thụ vào da có tác dụng ngăn chặn tiến triển của bệnh, làm giảm viêm, chậm quá trình sừng hoá.

UVB (tia cực tím nhóm B): Liệu pháp này có hiệu quả tốt cho vảy nến thể nhẹ và thể trung bình và những thương tổn kháng lại liệu pháp tại chỗ. Hiện nay ứng dụng UVB với bước sóng hẹp hiệu quả điều trị sẽ cao hơn.

PUVA (phối hợp thuốc uống proralen và tia cực tím nhóm A): UVA (tia cực tím nhóm A) có bước sóng dài được hấp thu sâu hơn UVB còn proralen làm cho da tăng nhạy cảm với ánh nắng.

Hiệu quả của PUVA cao hơn UVB, tuy nhiên liệu pháp này có một số tác dụng phụ như đau đầu, mệt mỏi, nóng rát và ngứa. Bệnh nhân sau khi uống proralen nên đeo kính râm và tránh ánh nắng trong 2 ngày. Tuy nhiên nếu điều trị PUVA kéo dài sẽ có nguy cơ ung thư tế bào gai và u hắc sắc tố da. Phối hợp PUVA với uống retinoid hiệu quả điều trị sẽ tốt hơn.

TINH DẦU TRÀM GIÚP CHỮA BỆNH VẢY NẾN

Cây Lá Tràm
>>http://diendanchuakhoivaynen.blogspot.com/2012/07/ia-chi-tin-cay-voi-nguoi-benh.html

Theo kết quả nghiên cứu mới đây được đăng trên tạp chí Archives Journals (Mỹ), các nhà khoa học Trung Quốc vừa tìm ra công dụng trị bệnh vảy nến, phát ban... hết sức hiệu quả của tinh dầu tràm. Theo đó, tinh dầu của loại cây chủ yếu được sử dụng làm thuốc nhuộm vải truyền thống của người phương Đông này có khả năng làm giảm đáng kể chứng phát ban trên da.

TS. Yin – Ku Lin của Bệnh viện Chang Gung – Triều Tiên, cùng các đồng nghiệp là các nhà khoa học Trung Quốc đã tiến hành một cuộc thử nghiệm tác dụng của dầu tràm đối với 42 bệnh nhân bị mắc bệnh vảy nến. Trước đó, những bệnh nhân này đã qua điều trị bằng nhiều phương pháp, song không đạt hiệu quả. Kết quả là sau 12 tuần liên tục bôi loại thành phần chiết xuất từ tinh dầu tràm lên vùng da bị bệnh, các tổn thương do bệnh vảy nến gần như đã bị loại bỏ (với 80% được hồi phục).

Trong số 34 bệnh nhân đã được điều trị khỏi bệnh, có 25 người (tương đương 74%) đã khỏi bệnh hoàn toàn. Chỉ có 4 người bị tác dụng phụ của dầu tràm gây ra hiện tượng ngứa ngáy, khó chịu, song vấn đề này có thể khắc phục được. Hiện các nhà khoa học đang rất hy vọng, thành phần hóa chất từ tinh dầu tràm có khả năng chữa vảy nến sẽ sớm được đưa vào ứng dụng để điều trị rộng rãi và hiệu quả.

TRÊN 50% BỆNH NHÂN BỊ VẨY NẾN CÓ KHỞI PHÁT Ở DA ĐẦU

Ảnh minh họa

Vẩy nến là một bệnh da liễu mạn tính xảy ra do rối loạn hệ thống miễn dịch. Bệnh chiếm tới 3% dân số, trong đó, trên 50% có khởi phát ở da đầu.






>>http://diendanchuakhoivaynen.blogspot.com/2012/07/ia-chi-tin-cay-voi-nguoi-benh.html

Dấu hiệu đặc trưng của vẩy nến da đầu là tróc vẩy, sưng đỏ từng vùng có ranh giới rõ ràng, thường ở dọc mép tóc, trên trán hoặc sau tai…. Bệnh thường không đe dọa tính mạng nhưng làm cho người bệnh có tâm lý tự ti, hòa nhập cộng đồng khó khăn.

Để điều trị vẩy nến da đầu, bác sĩ thường kê các thuốc đường uống, thuốc bôi hoặc dầu gội đặc trị.

Hiện nay, xu hướng đang được nhiều bác sĩ và bệnh nhân tin tưởng lựa chọn là sử dụng các sản phẩm nguồn gốc thiên nhiên, hiệu quả bền vững, không gây tác dụng phụ khi dùng lâu dài, đặc biệt là các sản phẩm đã được khẳng định qua nhiều hội thảo và nghiên cứu khoa học. Trong đó, nổi bật cho xu hướng này là thực phẩm chức năng Kim Miễn Khang. Sản phẩm có thành phần chính là sói rừng với tác dụng điều biến miễn dịch, chống tự miễn kết hợp với các thảo dược quý khác như: thổ phục linh, nhàu, hoàng bá,… giúp tăng cường năng lượng tế bào, phục hồi và điều hòa hệ miễn dịch, hỗ trợ điều trị, phòng tái phát vẩy nến nói chung và vẩy nến da đầu nói riêng.
Ngoài việc uống Kim Miễn Khang thường xuyên, bệnh nhân vẩy nến cần giữ tâm lý thoải mái, nếu bị bong tróc ở vùng da đầu thì không được cạo, vì dễ gây nhiễm khuẩn và bệnh trầm trọng thêm.

BỆNH VẨY NẾN THỂ MỦ

Tổn thương vẩy nến thể mủ toàn thân cấp tính.


Vẩy nến thể mủ là một thể nặng của bệnh vảy nến có những đặc điểm lâm sàng đặc biệt, tiến triển phức tạp hay tái phát, có thể ảnh hưởng đến tính mạng của bệnh nhân.

Nhiều dạng vẩy nến thể mủ

Bệnh vẩy nến thể mủ được chia làm hai nhóm chính là khu trú và lan tỏa. Vẩy nến thể mủ khu trú ở lòng bàn chân, lòng bàn tay và có khuynh hướng tiến triển mạn tính (thể Barber); viêm da đầu chi liên tục của Hallopeau. Vẩy nến thể mủ lan tỏa, thương tổn lan rộng toàn thân, tiến triển bán cấp đến cấp tính, có thể khởi phát đột ngột đe dọa tính mạng bệnh nhân gồm: toàn thân cấp tính (thể Von Zumbusch); bệnh ở phụ nữ mang thai (chốc dạng herpes - Impetigo Herpetiforme); bệnh ở thanh thiếu niên; dạng vòng cung, dạng đồng tiền, dạng dải.


Biểu hiện của vẩy nến thể mủ

Có khoảng 25 - 30% bệnh nhân bị vẩy nến thể mủ trước đó đã bị vẩy nến thể thông thường. Những người mắc các bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp trên do liên cầu β tan huyết nhóm A; phụ nữ có thai; tác dụng của ánh sáng mặt trời, bỏng nắng và stress cũng có thể gây vẩy nến thể mủ. Bệnh toàn thân cấp tính Von Zumbusch: thường sốt nhẹ kéo dài một ngày hoặc lâu hơn trước khi có thay đổi rõ ràng trên da hoặc thấy đau rát ở vùng da sắp xuất hiện thương tổn. Thương tổn đặc trưng của bệnh là dát đỏ, nề, trên có những mụn mủ vô khuẩn. Dát đỏ xuất hiện đột ngột, tiến triển nhanh trong vòng 1 ngày, da trở nên đỏ rực như bỏng lửa, căng nề. Thương tổn lan nhanh thành đám rộng, vùng nếp gấp, sinh dục có nhiều thương tổn. Bệnh có thể tiến triển tới đỏ da toàn thân nhưng mặt và lòng bàn tay, lòng bàn chân thường không bị tổn thương. Mụn mủ: trên nền dát đỏ, trong vòng vài giờ, xuất hiện các mụn mủ kích thước rất nhỏ khoảng một vài milimet, rất nông, màu trắng sữa, mọc thành đám hoặc rải rác. Mụn mủ phẳng hoặc gồ cao, xung quanh có quầng đỏ sẫm. Có thể có nhiều mụn mủ liên kết với nhau thành “hồ mủ” đường kính rộng 1 - 2cm. Sau vài ngày mụn mủ xẹp, chuyển sang giai đoạn bong vảy kéo dài một đến nhiều tuần, sau đó đỏ da nhạt dần rồi trở lại bình thường. Mụn mủ mọc thành từng đợt, mỗi đợt cách nhau vài giờ đến vài ngày, một số trường hợp có thể dai dẳng vài tuần. Khi các mụn mủ cải thiện thì các triệu chứng toàn thân thường giảm và hết.

Trong thời gian mụn mủ xuất hiện, bệnh nhân sốt cao có thể đến 40°C, nhức đầu, rét run, thể trạng suy sụp, mạch nhanh, thở nhanh nhưng không có thương tổn nội tạng. Hạch có thể có trước hoặc trong khi nổi mụn mủ. Tỷ lệ tử vong cao nếu bệnh nhân không được điều trị tích cực.

Các thương tổn khác gồm: móng tay móng chân dày, loạn dưỡng, phổ biến tình trạng làm mủ dưới móng và tách móng; viêm khớp; tổn thương niêm mạc...

Xét nghiệm thấy: Bạch cầu tăng, nhất là bạch cầu đa nhân trung tính, có thể tăng đến 32.000. Giảm albumin máu. Men gan tăng như phosphatase kiềm, transaminase và tăng bilirubin. Giảm thanh thải creatinin, có thể bị suy thận do hoại tử ống cấp gặp trong thể lan tỏa. Mụn mủ thường vô khuẩn hoặc chỉ nhiễm tụ cầu, liên cầu.
Tiêu bản tổn thương da trong bệnh vẩy nến thể mủ.
Các cách chữa trị

Thuốc có thể dùng là: steroids toàn thân đặc biệt là trường hợp mắc bệnh nặng có viêm khớp vì thuốc có tác dụng nhanh kể cả triệu chứng viêm khớp, nhưng đó chỉ là tác dụng tạm thời. Mặt khác, steroids đã được xác định là có liên quan đến khởi phát vẩy nến thể mủ, đặc biệt là sau khi ngừng điều trị thì bệnh tái phát nặng hơn, còn gọi là hiện tượng “bật bóng”. Vì vậy, việc sử dụng steroids trong điều trị cần phải rất thận trọng. Methotrexat và một số thuốc ức chế miễn dịch khác: các nghiên cứu đã cho thấy điều trị bằng methotrexat kết quả thường chậm nhưng tiên lượng lâu dài lại tốt hơn so với steroids. Tuy dùng methotrexat bệnh vẫn có thể tái phát khi dừng thuốc, nhưng không thấy hiện tượng bệnh tăng nặng như dùng các steroids. Vitamin A được đánh giá là có tác dụng tốt trong điều trị vẩy nến thể mủ, nhưng cần lưu ý không được dùng cho trẻ dưới 12 tuổi.

Mỗi thuốc điều trị bệnh vẩy nến thể mủ đều có những ưu điểm và hạn chế. Mức độ nặng và đáp ứng với điều trị tương đối khác nhau ở các bệnh nhân. Hiểu biết về hiệu quả và phản ứng phụ của các thuốc trước khi bắt đầu điều trị là rất cần thiết.

Biện pháp quang trị liệu (PUVA) có tác dụng ức chế tổng hợp AND của tế bào ở thượng bì, giảm số lượng tế bào trình diện kháng nguyên hoặc tế bào langerhans và giảm khả năng trình diện kháng nguyên của chúng. Ức chế sản xuất cytokine từ tế bào lympho T và ức chế phóng thích các chất trung gian hóa học.

ThS. Nguyễn Thị Thu Hà